40 năm khúc tráng ca Quảng Trị (2): Hồi ức của vị tướng
GiadinhNet - Sau khi thua trận một cách chóng vánh tại Quảng Trị , chính quyền ngụy lâm vào tình trạng lúng túng, lo sợ, còn Mỹ không tin đó là sự thật.
> 40 năm khúc tráng ca Quảng Trị (1): Cuộc tấn công bão táp
![]() |
|
Trung tướng Phạm Hồng Cư (người thứ hai từ phải sang) ở chiến dịch Quảng Trị. |
Nguyễn Văn Thiệu lúng túng
Tại Quảng Trị, Quân giải phóng tiêu diệt và bắt sống gần 30.000 địch, trong đó có một số đơn vị tinh nhuệ của quân lực Việt Nam Cộng hòa như Sư đoàn bộ binh 3, Lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ; phá hủy và thu 636 xe tăng, xe thiết giáp, 1.870 xe quân sự, 419 khẩu pháo các loại, bắn rơi và phá hủy 340 máy bay. Trước sức tiến công như vũ bão của Quân giải phóng, địch hoảng loạn rút chạy về Huế. “Nếu có đòn vu hồi, chúng ta đã có thể giải phóng được Huế. Khi địch hoảng loạn, chỉ cần một trung đoàn mạnh cộng thêm mũi vu hồi áp vào thì đủ sức giải phóng Thừa Thiên. Thời cơ vàng đã đến nhưng quân ta sau một trận đánh ác liệt cũng tổn thất nên không thừa thắng xông lên nữa”, Trung tướng Phạm Hồng Cư nói.
Ngay sau khi mất Quảng Trị, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ Sài Gòn vội vã đáp máy bay ra Đà Nẵng, nơi đóng quân của Vùng 1 chiến thuật Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Việc làm đầu tiên của Tổng thống Thiệu là cách chức Tư lệnh Vùng 1 của Trung tướng Hoàng Sơn Lãm, sau đó là thay đổi hàng loạt tướng lĩnh, điều động 2 sư đoàn dù từ Sài Gòn ra, đưa tướng Ngô Quang Trưởng là Tư lệnh Vùng 4 trám vào vị trí tướng Hoàng Sơn Lãm, lên kế hoạch tái chiếm toàn bộ tỉnh Quảng Trị bằng chiến dịch “Lam Sơn 72”. Để trấn an dư luận, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu còn lên đài Phát thanh- Truyền hình Sài Gòn lớn tiếng tuyên bố sẽ khôi phục toàn bộ Quảng Trị một cách sớm nhất.
![]() |
|
Bản đồ chiến dịch giải phóng Quảng Trị. |
|
Trung tướng Phạm Hồng Cư tên thật là Lê Đỗ Nguyên, sinh năm 1926 tại Thanh Hóa. Ông từng giữ chức vụ: Phó chính ủy Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308), Cục phó Cục Tuyên huấn, Cục trưởng Cục Văn hóa, Phó tư lệnh về chính trị Quân khu 2, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. |
“Thời điểm chúng ta bước vào phòng ngự, thành cổ Quảng Trị chưa đầy 3km2 mà Mỹ-ngụy dùng pháo hạm, dùng B-52 băm nát như vậy thì làm sao chúng ta tránh được tổn thất. Chúng ta giữ thành cổ là để phối hợp với đấu tranh ngoại giao trên bàn đàm phán. Tôi đã từng tham gia nhiều chiến dịch quân sự lớn trong chống Pháp và chống Mỹ như: Chiến dịch Tây Bắc, Biên Giới, Điện Biên Phủ, Đường 9 - Nam Lào, sau này là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975… nhưng nhìn lại, chưa có chiến dịch nào ác liệt và kéo dài như chiến dịch Quảng Trị. Hai bên đọ sức 304 ngày bằng sức mạnh cao nhất lúc bấy giờ. Biết bao đồng chí, đồng bào đã đổ máu, hy sinh để tạo nên khúc tráng ca bất tử. Căng thẳng đến nỗi, lúc ta bước vào phòng ngự, các đồng chí Lê Trọng Tấn và Lê Quang Đạo phải rút ra Hà Nội do sức khỏe giảm sút (Tư lệnh Lê Trọng Tấn vì nghe điện thoại nhiều nên bị loét tai do dị ứng), thay thế bằng Tư lệnh Trần Quý Hai và Chính ủy Song Hào”, Trung tướng Hồng Cư tâm sự.
Ngừng lại giây lát, vị tướng già tiếp tục câu chuyện: “Trưa 30/4/1975, sau khi xe tăng ta húc đổ cổng sắt, tôi bước chân vào thảm cỏ Dinh Độc Lập. Nước mắt tôi cứ tràn ra, không thể ngăn được sự xúc động. Tôi thuộc thế hệ cán bộ tiền khởi nghĩa, từng bị Pháp bỏ tù, hiểu được thế nào là kiếp sống nô lệ. Đối với thế hệ chúng tôi, Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 là một lời thề: Thề hy sinh chứ không chịu mất nước. Thống nhất đất nước rồi, không thể quên máu của đồng đội đã đổ xuống, đặc biệt là ở chiến trường Quảng Trị, nhiều người đã không được thấy ngày giải phóng...”.

