Chuyện tình nữ y tá mặt trận Điện Biên

GiadinhNet - Ông, bà ngoại tôi sinh ra và lớn lên ở vùng ven Hà Nội cũ. Bà nhập ngũ năm 1948, khi mới 16 tuổi, ông nhập ngũ năm 1949, ở tuổi 19. Bà là nữ y tá của Đội Điều trị 2- trực tiếp phục vụ thương binh tại mặt trận Điện Biên. Ông là chiến sĩ cứu thương của sư đoàn chủ lực 312. Chuyện tình của ông bà tôi gắn liền với cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp đặc biệt là với Chiến dịch Điện Biên phủ.

Chuyện tình nữ y tá mặt trận Điện Biên 1

Bà Đỗ Thị Lê và chồng là ông Đặng Văn Luân (y tá đại đoàn 312 trong kháng chiến chống Pháp).

 
Đội Đều trị 2- Những ngày đêm khốc liệt
 
Bà tôi kể: Đội Điều trị 2 của bà đóng quân gần đồi Độc Lập, bên cạnh một con suối đẹp như mơ. Khi những trận chiến ác liệt diễn ra, trời còn rất rét. Mưa tầm tã. Bùn ở hầm, hào nhão nhoẹt, nhầy nhụa, có khi ngập ngang ngực. Thương binh từ mặt trận ùn ùn đưa về. Người nào cũng ướt sũng, máu me, bùn đất trát bê bết từ đầu đến chân, chỉ hở hàm răng và hai mắt. Người cụt tay, người cụt chân, người bị thương vào đầu, vào bụng…cơ man là bùn và máu. Nhiều người bị mảnh đạn lẫn bùn găm lỗ chỗ như đậu đen đầy mặt, rửa hàng tháng cũng không sạch. Con suối rộng, trong leo lẻo, mơ mộng là thế, vậy mà mỗi lần y tá giặt quần áo cho thương binh, cả một đoạn suối dài đỏ ngầu vì máu và bùn đất.
 
Thiếu người, thiếu thuốc, thiếu dụng cụ y tế… thương binh lại về dồn dập, cả bác sĩ lẫn y táđều làm việc đến kiệt sức. Các bác sĩ phải liên tục phẫu thuật cấp cứu trong khi thuốc gây mê rất ít. Các ca mổ được thực hiện trong hầm tối, y tá phải ngồi lên chiếc xe đạp gắn với bình ac-qui nhỏ, đạp thật lực để có nguồn sáng.Trong ánh sáng le lói phát ra từ chiếc đèn xe đạp, bác sĩ đứng hàng chục giờ liên tục để mổ khiến chân phù mọng, to như chân voi. Sức chịu đựng của thương binh cũng phi thường. Có đồng chí giập nát cả hai chân, phải  cắt để tránh hoại tử. Không có thuốc mê, đồng chí ấy bám chặt hai tay vào giường bệnh, mắt như lồi ra vì đau đớn, nhưng không hề kêu la một tiếng. Không gian ẩm ướt, nhớp nhúa bùn đất là cơ hội cho vi trùng xâm nhập. Có vết thương bị nhiễm trùng, dòi lúc nhúc ở trong, các y tá phải gỡ băng ra, gắp từng con dòi, rửa sạch vết thương cho thương binh.
 
Kể lại chuyện cứu chữa thương binh, thỉnh thoảng bà tôi lại sụt sùi, chấm nước mắt: “Thương lắm, cháu ơi! Ruột gan cứ quặn thắt vì thương cảm”. Các y tá hầu như không ngủ, cả ngày quần quật phục vụ thương binh, đêm lại ngồi dưới chân thương binh để kịp thời cấp cứu, chăm sóc. Lúc được đưa về, thương binh chỉ có một bộ quần áo vải thô và một áo trấn thủ mỏng, rách tả tơi, ướt sũng bùn đất, rét run người. Các y tá, bác sĩ phải nhường quần áo, chăn màn, khăn ấm của mình cho họ. Đến bữa, bác sĩ, y tá chỉ ăn cơm với rau tàu bay. Có chút thịt, cá hoặc đồ hộp chiến lợi phẩm lấy được của Tây đều dành hết cho thương binh. Vậy mà đâu có đủ. Thương binh chủ yếu ăn cháo nấu bằng chút gạo với đường đỏ.
 
60 năm đã trôi qua nhưng bà vẫn nhớ như in từng đồng chí thương binh. Đồng chí Gia, người to lớn, bị thương nặng phải bó bột nửa thân, đau đớn không nằm được, bà  thường phải ngồi cả đêm để đồng chí ấy tựa lưng, đỡ đau thì mới ngủ được. Đồng chí Hòa bị cũng thương rất nặng, máu chảy nhiều nên rất khát nước, cứ liên tục xin uống nước nhưng bà không dám cho uống nhiều vì sợ không cầm được máu. Bức xúc, đồng chí ấy đã giằng lấy ca nước hắt thẳng vào mặt bà và mắng nhiếc thậm tệ vì tưởng bà ác, hành hạ thương binh. Bà khóc tức tưởi, nhưng vẫn nén chịu, nhẹ nhàng giải thích cho đồng chí ấy hiểu và còn chăm sóc đồng chí ấy tận tình hơn. Lúc bình phục, chia tay về đơn vị, đồng chí Hòa cứ ngồi khóc rưng rức vì hối hận… 
 
Bà kể: hồi đó là con gái mới lớn, đêm trong rừng lại tối đen mịt mù nên chỉ sợ ma. Vậy mà đã nhiều đêm bà cùng một nữ y tá nữa phải ngồi trong chiếc lán làm trên đồi vắng để trông nom thi hài các liệt sĩ. Tình thương đã khiến bà và các cô y tá trẻ quên cả sợ ma. Mỗi khi có thương binh quá nặng không qua khỏi, đơn vị đặt các anh ấy vào chiếc lán đó, phủ chăn, mắc màn, trong khi chờ dân công đan quan tài bằng nứa, bọc ni lông để an táng.Trong lán để một ngọn đèn dầu nhỏ leo lét, soi mờ mờ mặt các liệt sĩ. Bà và cô bạn trực cùng phải đi kiểm tra liên tục từng liệt sĩ để tránh chuột, bọ đến gần. Nhiều khi kiểm tra xong, bà và cô bạn ra cửa lán ngồi khóc vì xót thương.
 
Đêm ấy- duyên kỳ ngộ
 
Chuyện tình nữ y tá mặt trận Điện Biên 2

Một buổi gặp mặt của các thành viên Đội điều trị 2 mặt trận Điện Biên Phủ (bà Đỗ Thị Lê ngồi hàng dưới, thứ 3 từ trái vào). Ảnh Tư liệu gia đình

 
“Chiến đấu và phục vụ thương binh gian khổ như vậy, bà và ông quen rồi tìm hiểu, lấy nhau vào lúc nào?”- tôi tò mò hỏi. Khuôn mặt phúc hậu của bà thoáng đỏ. Bà mỉm cười: “ Âu cũng là cái duyên, cái số chứ khi ông bà lấy nhau, có biết gì nhiều về nhau đâu. Lúc cảm mến nhau, gần như mới chỉ nghe tiếng nhau mà chưa nhìn rõ mặt”. Rồi bà kể: “Hồi đó bà đang làm việc tại một xưởng quân dược, chế biến thuốc. Ông là cứu thương mặt trận ở sư đoàn 312. Một lần, bà đi lấy lá thuốc, gặp trời tối không kịp về đơn vị nên phải rẽ vào một bản nhỏ nghỉ tạm. Bản này trước đó đơn vị bà đã đóng quân nên tương đối quen thuộc với bà. Bà vào nhà một chị quen. Vừa bước vào sân bà đã nghe tiếng trò chuyện, tiếng sáo trúc vi vút. Gặp lại bà, chị chủ nhà rất vui. Chị kéo bà ra một chỗ nói nhỏ: “Trong nhà chị có bộ đội đóng quân, có một anh người Hà Nội, em ra nói chuyện với các anh ấy cho vui.” Nói rồi chị chỉ về hướng 3 anh bộ đội đang ngồi chơi trên chiếc trõng nhỏ ở góc sân. Một anh đang thổi sáo. Ở vùng rừng núi xa xôi, nghe nói có người gần quê thì ai cũng mừng. Vì vậy, bà mạnh dạn tới gần chào các anh bộ đội. Nghe giới thiệu bà là người làng Yên Phúc, Hà Đông  anh bộ đội thổi sáo lúc nãy reo lên: “ Vậy đồng chí là đồng hương của tôi rồi. Tôi là Luân, người làng Khương Hạ, Hà Nội chỉ cách làng đồng chí 3 cây số thôi.” Câu chuyện trở nên rôm rả. Trời tối nên không nhìn rõ mặt, bà chỉ cảm nhận đó là một thanh niên dáng gầy gầy, thanh thanh, sôi nổi, vui tính và chân thành. Qua chuyện trò bà biết, anh Luân cũng mồ côi cha mẹ từ tấm bé như bà. Cuộc đời cũng phải chịu bao khổ cực, đắng cay. Trong thâm tâm bà cũng thấy cảm tình. Sự xuất hiện của cô gái trẻ khiến các anh bộ đội phấn chấn hẳn.  Họ đề nghị bà hát. Vốn yêu văn nghệ, bà mạnh dạn hát bài “ Hoa đồng vui”, một bài hát rất vui tươi thời đó. Bà vừa cất tiếng hát, anh Luân liền rút sáo ra thổi phụ họa, mọi người vỗ tay hòa theo. Không khí thật vui.
 
Mờ sáng hôm sau, bà về đơn vị, nghĩ rằng sẽ không bao giờ gặp lại anh bộ đội tên Luân ấy nữa. Không ngờ, sau buổi tối đó, anh Luân đã cảm mến bà nên đã gửi 2 thư làm quen nhờ chị chủ nhà chuyển giúp.Không may cho anh, vì rất quí bà và đang muốn giới thiệu bà cho em trai mình nên chị chủ nhà đã giấu biệt thư. Chờ mãi không thấy hồi âm, mấy hôm sau, có một chị ở đơn vị bà xuống bản xay bột làm thuốc, anh Luân lại gửi chị 1 bức thư nữa cho bà. Phải một thời gian sau bà mới có dịp quay lại bản đó. Thấy bà, chị chủ nhà liền đưa 2 lá thư và xin lỗi bà. Chưa kịp đọc, bà đã thấy anh Luân xuất hiện. Vồn vã chào bà xong anh hỏi nhỏ: “Tôi gửi cho Lê mấy lá thư, Lê có nhận được không mà sao không trả lời. Tôi mong quá”. Bà bẽn lẽn:“ Tôi chỉ nhận được lá thư thứ ba. Tôi không biết trả lời sao, vì tôi và anh chưa biết gì nhiều về nhau, thú thực đến mặt vẫn còn chưa rõ”. Lúc này, bà mới nhìn rõ mặt anh và thấy đó là một thanh niên thanh tú, đẹp trai tuy có gày gò.( Hồi đó vô cùng thiếu thốn. Đơn vị ông là đơn vị chủ lực, trực tiếp đánh nhau với giặc mà chỉ toàn ăn cháo bí đỏ.) Anh Luân lại nói: “ Thôi, không nói chuyện thư từ nữa. Tôi chỉ muốn nói với Lê: gặp Lê, tôi rất cảm mến. Tôi thấy Lê là cô gái hồn hậu, chân thực. Chúng ta lại cùng quê, cùng chịu cảnh mồ côi khổ cực. Vậy nên tôi muốn chúng ta làm bạn. Nếu sau này có thể xây dựng được với nhau thì tốt quá, nếu không cũng không sao. Tôi rất sung sướng khi có một người thân như Lê”. Bà tôi cảm động, không kịp suy nghĩ, đắn đo gì nhiều, ấp úng trả lời: “ Vâng, vậy tôi về đơn vị tôi, anh theo đơn vị anh, chúng ta cứ viết thư cho nhau. Nếu sau này có duyên với nhau thì tôi cũng rất vui.”
 
Sau đó, bà vẫn ở xưởng quân dược. Ông theo sư đoàn 312 chiến đấu hết chiến dịch này đến chiến dịch khác. Thời gian gặp nhau gần như không có. Những cánh thư đã nối chặt ông bà với nhau. Có một lần, sau một chiến dịch lớn, ông xin phép nghỉ 2 ngày về thăm bà. Ông đi bộ một mình xuyên rừng hơn 50 cây số suốt chiều và đêm hôm trước đến sáng hôm sau mới tới nơi. Chấp hành qui định bảo mật thời đó, ông không vào nơi bà đóng quân mà vào nhờ nhà dân cách đó gần 2 cây số rồi tìm cách báo tin cho bà. Gặp ông, bà rơi nước mắt nhìn thấy ông hốc hác, hai mắt trũng sâu, chân phồng rộp vì đi bộ. Chỉ ở bên nhau được một lúc rồi bà phải về làm việc, còn ông lại đi bộ ngần ấy cây số về đơn vị trả phép đúng hẹn. Cảm động trước tấm chân tình của ông, bà đã nhận lời lấy ông khi ông ngỏ lời trước khi đi một chiến dịch lớn. Ông bà cưới nhau đúng ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, 19-08-1952. Dạo đó, ông xin nghỉ phép ít hôm để về hỏi cưới bà. Xưởng quân dược đứng ra làm lễ cưới cho ông bà tại lán hội trường của xưởng. Tối đó văn nghệ rất vui. Cũng có chút bánh kẹo, thuốc lá do đơn vị cấp. Phòng tân hôn của ông bà là phòng thay quần áo cho diễn viên ở hội trường. Giường cưới là chiếc trõng nhỏ đan bằng tre ọp ẹp. Cưới xong, ông bà chỉ ở với nhau được đúng một tuần. Sau đó, ông sang chiến đấu ở Thượng Lào, biền biệt suốt hai năm ròng… 
 
Luôn đặt nhiệm vụ lên trên hết, có lần bà bị ông dỗi vì tội “quên hẳn ông”. Chuyện thế này, sau 2 năm chiến đấu gian khổ ở Lào, ông được về nghỉ an dưỡng ở Thái Nguyên. Lúc đó bà vẫn đang cứu chữa thương binh ở Điện Biên Phủ. Ông gửi thư bảo bà nên xin nghỉ phép mấy hôm để về gặp ông, vì từ ngày cưới đến lúc đó ông bà chưa một lần gặp nhau. Bà viết thư trả lời rằng đang chiến dịch căng thẳng, không thể bỏ thương binh mà đi được. Ông cũng biết vậy, nhưng vì quá nhớ bà nên ông dỗi, dọa nếu không về sẽ bỏ bà. Bà cũng chẳng vừa bảo: “ Nếu anh có thể làm được như vậy thì tùy, chứ em không thể làm khác được.  “Nói vậy thôi chứ bà biết ông không bao giờ bỏ được bà.” – Bà đùa vui như thưở còn mười tám đôi mươi.
 
Ngay sau Ngày Chiến thắng, do có nhiều thành tích trong phục vụ thương binh, bà được đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua của Tổng cục Hậu cần ở Thái Nguyên. Đến lúc đó ông bà mới gặp lại nhau.
 
Gia đình quân nhân
 
Chuyện tình nữ y tá mặt trận Điện Biên 3

Vợ chồng ông Đặng Văn Luân,  bà Đỗ Thị Lê và các con cháu.
Ảnh: Tư liệu gia đình

 
Khi đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại ra ở miền Bắc, ông bà lại phải xa nhau cho đến tận ngày nghỉ hưu. Ông theo một đơn vị Pháo binh chiến đấu với máy bay và tàu chiến địch ở chảo lửa Quảng Bình. Bà về Tổng cục 2 thuộc Bộ Tổng tham mưu. Do yêu cầu bảo mật nên mặc dù cũng là bộ đội nhưng mỗi lần được về thăm bà ông phải vào nhờ nhà dân ở một nơi cách đơn vị bà 2-3 km. Bà là người lính kỷ luật cao nên dù rất lâu và khó khăn lắm mới được gặp chồng bà chỉ xin ra gặp ông một lát vào ban ngày, rất ít khi ngủ lại ban đêm vì phải trực chiến và… ngại nhà dân kiêng. Nhiều lúc ông thấy nhớ vợ đến phát khóc nhưng vẫn phải “chấp hành lệnh của bà”. Khi ông bà đi chiến đấu, các con phải đi sơ tán theo các trại trẻ hoặc sống tự lập ở các nhà dân xa thành phố. Mỗi lần về thăm con, ông bà phải đạp xe cả trăm cây số. Có lần bà đạp xe một mình suốt đêm qua những vùng rừng núi vắng vẻ , lội qua những con suối rộng, chảy xiết, về nhìn thấy con mấy tiếng đồng hồ rồi lại đi ngay.Vậy mà các con của ông bà đều trưởng thành,học hành đến nơi đến chốn, trở thành những cán bộ tốt, những sĩ quan cao cấp trong quân đội. Đến khi nghỉ hưu ông bà vẫn phải chịu cảnh sống xa nhau vì bà còn bận đi chăm các cháu. Chỉ đến gần tuổi 80, khi tất cả các cháu đã lớn, ông bà mới thực sự được sống cho mình và sống cho nhau. Mối tình của ông bà tôi là điển hình của mối tình người lính: đầy đức hy sinh, mộc mạc, giản dị nhưng mãnh liệt, thủy chung.
 
Hồ Thủy Tiên
 
baoin