Cổ ngọc cung đình “made in Việt Nam”
GiadinhNet - Rất ít người biết rằng Việt Nam cũng có những món cổ ngọc mang nét riêng độc đáo
Cổ ngọc vốn được biết tới như những“đặc sản” của Trung Quốc nên rất ít người biết rằng Việt Nam cũng có những món cổ ngọc mang nét riêng độc đáo. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam hiện đang lưu giữ nhiều bảo vật bằng ngọc có xuất xứ từ cung đình Huế.
![]() |
|
Tượng ngọc 12 con giáp. |
Những bảo vật cực quý hiếm
Trong số hàng ngàn hiện vật bằng ngọc của Bảo tàng Lịch sử VN đang lưu giữ, không nhiều cổ ngọc có niên đại sớm. Hầu hết số hiện vật có nguồn gốc từ cung đình Huế. Đây chính là số cổ vật triều Nguyễn được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp nhận sau Cách mạng tháng 8 năm 1945.
Trong số đó, có 2 bộ cổ ngọc khá đặc sắc là nhóm cổ ngọc đặc biệt quan trọng là 18 chiếc ngọc tỷ và những chiếc nghiên mài mực có minh văn. Nhóm ngọc tỷ bao gồm 2 chiếc thuộc thời Lê Trung Hưng, 3 chiếc đời vua Minh Mệnh, 3 chiếc đời Thiệu Trị, 2 chiếc đời Tự Đức, 2 chiếc đời Khải Định và 6 chiếc thuộc loại “Đồ thư văn bảo” (theo cách gọi của sách Khâm định Đại nam hội điển sử lệ). Những ngọc tỷ này được chạm khắc, mài dũa bằng nhiều loại ngọc khác nhau với các màu xanh sẫm, xanh nhạt hay bạch ngọc.
![]() |
|
Nghiên ngọc cổ minh vân. |
Trong số ngọc tỷ, có rất nhiều món đặc sắc như chiếc ngọc tỷ “Vạn thọ vô cương” đời vua Minh Mệnh. Đây là chiếc ngọc tỷ gắn liền với câu chuyện của một người dân đào đất tìm được đem dâng vua. Nhà vua và triều thần vô cùng mừng rỡ, lập tức xuống chỉ cho dùng ngọc tỷ này đóng lên các ấn chiếu, cao văn, khánh tiết trong lễ Vạn thọ mừng thọ nhà vua.
Trong số các ngọc tỷ hiện có ở bảo tàng, những ngọc tỷ từ năm 1835 (tức là năm Minh Mệnh 6) trở về sau, các ngọc tỷ của các hoàng đế Minh Mệnh và Thiệu Trị thường được khắc rõ thời gian tạo tác như ngọc tỷ “Hoàng đế chi tỷ tạo” năm 1835, “Hành tại chi tỷ tạo” năm 1837, “Đại Nam thiên tử chi tỷ” năm 1839...
![]() |
|
Chén ngọc. |
Chuyện trong sử cũ
Có khá nhiều câu chuyện trong sử cũ còn lưu truyền lại việc người dân tìm được ngọc quý dâng lên vua làm ngọc tỷ cùng với thời điểm được ghi khắc trên ngọc tỷ. Nhiều tài liệu còn ghi lại câu chuyện như năm 1837, có người dâng viên ngọc trắng lên vua Minh Mệnh, nhà vua sai làm ngọc tỷ “Hành đại chi tỷ”; năm Minh Mệnh 20 – (1839) đúng khi vương triều đổi quốc hiệu là Đại Nam, lại có người dâng ngọc quý, nhà vua liền ra lệnh khắc ngọc tỷ “Đại Nam thiên tử chi tỷ”... Đặc biệt, vào năm Thiệu Trị 6 – (1846), có người dâng vua một viên ngọc cực lớn vốn là sản vật của núi ngọc huyện Hòa Điền – Quảng Nam. Nhà vua ra lệnh cho quan Hữu tư mài dũa thành ngọc tỷ mất tới 1 năm mới xong. Ngọc tỷ này mang tên “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” (có nghĩa là ngọc tỷ truyền quốc của nước Đại Nam, nhận mệnh lâu dài từ trời)...
Một bộ cổ ngọc khác được nhiều người chú ý, đó là những chiếc nghiên ngọc, trong đó có 4 chiếc đặc biệt đáng chú ý, là những chiếc nghiên có gắn minh văn khắc trên vỏ hộp đựng nghiên hay khắc trực tiếp trên nắp nghiên.
Chiếc thứ nhất có màu xanh ghi được đặt trong một chiếc hộp kim loại hình khối hộp chữ nhật có bốn chân thấp. Trên bốn mặt xung quanh hộp khắc hoa chanh và khắc sóng nước, cỏ rong, chòm sao thất tinh. Mặt nắp hộp có ô chữ nhật, viền hồi văn chữ T, bên trong ô khắc sáu dòng chữ Hán, từ phải sang trái: dòng một đến bốn là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt gồm 4 dòng x 14 chữ. Dòng thứ 5 ghi “Thiệu Trị nguyên niên Tân Sửu cát nguyệt nhật cung tuyên”, nghĩa là: “Cung kính khắc ngày tháng lành năm Tân Sửu, năm đầu niên hiệu Thiệu Trị” (1841). Dòng thứ 6: “Ngự chế châu nghiễn thi nhất thủ” (một bài thơ Ngự chế về nghiên mài son của vua), trên mặt nghiên ngọc khắc ô mực hình bông hoa bốn cánh, xung quanh khắc hai hình rồng năm móng, chầu viên châu ngọc.
Chiếc thứ hai có vỏ hộp tương đồng với chiếc nghiên trên và hoa văn khắc xung quanh. Trên mặt nắp hộp, bên trong ô chữ nhật, diềm hồi văn chữ T cũng khắc sáu dòng chữ Hán, từ phải sang trái. Chiếc thứ ba không có vỏ hộp kim loại nhưng tạo hình khối chữ nhật với hai nửa lắp khớp lại (còn gọi là loại nghiên hộp). Cả hai nửa cùng tạo bằng loại ngọc trắng xám. Trên mặt nắp nghiên, khắc và thếp vàng sáu dòng chữ Hán. Cả hai chiếc này đều khắc những bài thơ tương tự như chiếc thứ nhất và đều gắn liền với vua Thiệu Trị. Còn chiếc thứ tư được chế tạo cùng khuôn khổ kích thước kiểu nghiên như trên. Điểm khác là bài ngự chế và dòng 5: (Cung kính khắc năm Thiệu Trị 7, (1847). Nghiên ngọc thạch mài son. Trên mặt nghiên khắc ô mực, xung quanh là cành hoa lá quả đào và hình con dơi ở góc theo đề tài Phúc- Thọ.
Bốn chiếc nghiên ngọc là đồ Ngự dụng duy nhất được biết thuộc về vua Thiệu Trị - một nhà vua thi sĩ. Nội dung của các bài thơ vẫn chưa được dịch và nghiên cứu. Ngoài những chiếc nghiên trên, Bảo tàng Lịch sử còn trưng bày và lưu giữ nhiều chiếc nghiên có khắc chữ thể hiện rõ đó là đồ ngự dụng nhưng không biết vị vua nào sử dụng. Bên cạnh đó, Bảo tàng cũng đang cho triển lãm hàng trăm hiện vật bằng ngọc đặc sắc khác và hầu hết chúng đều có xuất xứ từ cung đình.
![]() |
|
Ấn triện ngọc. |
Nét riêng biệt của cổ ngọc Việt Nam
So với cổ ngọc của Trung Quốc, cổ ngọc Việt Nam có nhiều điểm khác biệt thể hiện những người thợ chế tác ngọc của Việt Nam cũng rất tinh xảo. Ông Nguyễn Đình Chiến – Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử cho biết, trong số cổ ngọc được trưng bày, có rất nhiều hiện vật có minh văn thể hiện niên đại hoặc người sử dụng. Có hiện vật được ghi chép rõ trong sử sách và trên hiện vật cũng khắc chữ đi kèm thì hoàn toàn dễ dàng xác định. Tuy nhiên, đối với những hiện vật không có minh văn, các nhà nghiên cứu phải căn cứ vào hoa văn và màu sắc... trên cổ ngọc.
Với mỗi thời kỳ, hiện vật cổ có những hoa văn tương ứng, có nhiều hiện vật thể hiện rõ chúng rất... Việt Nam. Ví dụ như bộ tượng Thập nhị chi hay còn gọi là 12 con giáp của thời Nguyễn. Ở đây bộ ngọc được thể hiện bằng ngọc trắng xám, mô tả 12 con vật biểu trưng của 12 tháng theo lịch phương Đông (bộ tượng thiếu 1 con là con Mèo). Tất cả những tượng này đều ở tư thế ngồi, chân phải gập lại, chân trái chống, tay cầm một vật gì đó, sự khác nhau thể hiện ở đầu tượng. Đây là cách thể hiện được các nhà nghiên cứu cho là khá độc đáo, ít gặp trong nghệ thuật cổ.
Ngoài những cổ ngọc có minh văn rõ ràng, những cổ ngọc được chế tác theo các đề tài như viên long, rồng đuôi xoáy, phượng hoàng, dơi, quả đào, phúc- thọ... được thể hiện trên khá nhiều cổ ngọc đã trở thành những đặc điểm nhận diện riêng của nghệ thuật cung đình thời Nguyễn.
Việc nghiên cứu về cổ ngọc tại nước ta chưa thực sự được kỹ lưỡng nên còn khá nhiều bí ẩn của cổ ngọc Việt Nam chưa được khám phá. Công tác nghiên cứu về xuất xứ của nguyên liệu, nơi chế tác, các nghệ nhân chế tác hay công dụng cũng như giá trị kinh tế của từng loại ngọc…. cũng vẫn còn bị bỏ ngỏ. Lý do khiến các nhà nghiên cứu ít đi sâu tìm hiểu cổ ngọc chính bởi số lượng cổ ngọc Việt Nam cực kỳ ít ỏi, không phải nhà nghiên cứu nào cũng có điều kiện để tiếp cận. |
Hoàng Phương




