Hành trình tái sinh bí thuật đúc mộ cổ thần kỳ
GiadinhNet - Ông Truật dẫn tôi lên sân thượng, nơi ông từng thực hiện những công trình thí nghiệm liên quan đến khảo cổ học hơn nửa đời người của mình.
![]() |
|
Viên gạch bằng hợp chất ông tự đúc. |
Không gian xưa của nhà khảo cổ
Ông Đỗ Đình Truật (83 tuổi, TP. HCM), nhà khảo cổ lão thành, chuyên gia mộ cổ bậc nhất Việt Nam hiện nay, từng đạt kỷ lục là người khai quật nhiều mộ cổ nhất Việt Nam, được Nhà nước tặng thưởng nhiều bằng khen vì có đóng góp to lớn cho nền khảo cổ học nước nhà. Từng "theo chân" ông trong các công trình khảo cổ, với tôi đó là một điều hết sức may mắn. Bởi ở ông, người ta tìm thấy một kho kiến thức về lịch sử, về khảo cổ, phong thủy... Ông cũng là người nặng lòng với truyền thống dân tộc. Cuộc đời ông, như chính người vợ hiền thường nói, là những chuyến đi, nơi đâu có mộ cổ là có ông. Bước chân từng bào mòn trên những vỉa đá cao nguyên, ngập bùn ở vùng đồng bằng lầy lội, chỉ với một suy nghĩ đau đáu là trả lời những câu hỏi hóc búa của tiền nhân. Mộ cổ là một phần của cuộc đời ông.
Ông tâm sự, chính những chuyến đi như không có hồi kết ấy đã giúp ông khám phá ra nhiều điều. Một trong những bí mật mà ông tâm huyết nhất chính là việc tìm ra bí quyết đúc hợp chất ở các ngôi mộ cổ của người xưa. Để "giải mã" được công thức ấy, ông phải tìm hiểu, nghiên cứu và thử nghiệm gần như suốt cuộc đời. Bí mật này, ông gần như chôn dấu, bởi một lẽ người ta sẽ bảo ông "khùng". Nhưng ông muốn chứng minh một điều rằng, nếu biết "lắng nghe" tiền nhân, đem ứng dụng vào thực tiễn thì triển vọng không hề nhỏ.
Là chỗ quen thân, trong lần đến nhà ông trà nước đàm đạo, tình cờ, tôi nhìn thấy một viên gạch dạng 2 lỗ rất lạ được ông trịnh trọng đặt ở chiếc kệ nhỏ trên gác tủ. Tôi tò mò hỏi thì được biết, đó là viên gạch đặc biệt. Ông đưa tôi xem, viên gạch màu bã trầu, các hạt cát liên kết với nhau bằng một loại chất kết dính rất lạ, đặc biệt nhẹ, vừa dai vừa cứng, dùng búa đập cũng không hề hấn. Ông cho biết, đó là viên gạch mà ông thử nghiệm thành công bằng cách vận dụng công thức chế tạo hợp chất trong các ngôi mộ cổ mà ông tự nghiên cứu ra.
Xem xong viên gạch, ông dẫn tôi lên sân thượng, chiếc sân khiêm tốn lẩn khuất sau những dãy nhà cao tầng, đặt đầy chậu cảnh, cây lá xanh tốt. Tiến đến chiếc chậu bên trong trồng một gốc cảnh lớn, ông lại hỏi: "Theo cậu, những chiếc chậu này được đúc bằng xi măng hay không?". Tôi vừa sờ vừa quan sát, dùng vật cứng tác động, rồi bảo tất nhiên đó là xi măng. Ông lắc đầu: "Vẫn là hợp chất đấy, cái chậu này, cái kia và tất cả những chiếc chậu cảnh đang trồng cây ở đây tôi đều không đụng đến một hạt xi măng, nhưng anh thử dùng búa đập xem có vỡ được không. Tôi cam đoan 1 vài trăm năm nữa nó vẫn y như bây giờ, không những thế nó còn bền và chắc hơn".
![]() |
|
Ông Đỗ Đình Truật bên chiếc chậu cây đúc bằng hợp chất. |
Con đường đầy gian nan
|
Đau đáu cùng nguyện ước chưa thành Sau khi tìm ra được công thức chế tạo hợp chất, ông Truật quyết định viết công trình khoa học, mang tên "Phương án xây dựng công trình lấy nước ngọt ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi)", mong ứng dụng thực tiễn. Dựa trên đặc điểm hợp chất không bị ăn mòn bởi nước mặn, có thể dùng cát biển (dùng xi măng thì cát biển không thể). Nếu ở đảo xa dùng phương pháp của ông Truật để xây công trình, thì chỉ cần mang theo mật mía mà thôi. Rất hợp để xây những boong ke quân sự chống nước mặn hoặc sự công phá của đạn dược ở các đảo nhỏ, đặc biệt chi phí sẽ giảm đi rất nhiều. Nhưng điều đáng buồn, khi ông trình ý tưởng trên ra Lý Sơn để xây những bể nước ngọt trên đảo, thì người ta không hiểu nên từ chối. Đến nay, tâm huyết ấy vẫn còn đang bỏ ngõ. |
"Người xưa đã có bí quyết gì để làm nên loại hợp chất ấy mà hàng trăm năm sau khoa học hiện đại phải bó tay? Chính điều đó đã thôi thúc tôi phải giải mã", ông Truật nói. Qua các tài liệu lịch sử người xưa thì chỉ thấy nói việc làm mộ hợp chất thường phải dùng nhựa cây ô dước thấm cát và nước, còn không thì mật đường trộn cát và nước. Nhựa cây ô dước trộn cát thì cho độ bền tuyệt mỹ, thế nhưng loài cây này quá hiếm, người ta dùng mật mía ép để trộn cát là phổ biến hơn. Thế nhưng điều khó khăn là để có hợp chất ấy phải trộn theo tỷ lệ như thế nào thì sử sách không nêu rõ.
Sau những chuyến khai quật mộ trở về, ông tự mang can ra chợ mua mật mía, rồi mua cát về quyết định làm thí nghiệm. Đầu tiên ông thử đúc gạch, dạng 2 lỗ truyền thống, thế nhưng nhiều lần vẫn thất bại. Có khi, kết quả thử nghiệm là viên gạch vụn, có lúc chỗ cứng chỗ mềm, khi là một khối vữa nhão nhoét không thành hình. Qua những lần thất bại ông rút ra một điều, việc trộn mật mía, cát và nước phải theo một tỷ lệ nhất định. Nếu nhiều mật quá thì sẽ ra hỗn hợp rất dính như keo khó làm, nếu ít mật quá, độ liên kết rất kém, sẽ tan vỡ khi gặp nước. Cuối cùng, ông điều chỉnh tỷ lệ lại một lần nữa. Lần này, ông cho cát thấm nước sau đó cho lượng mật vừa đủ và trộn đều. Khi cảm thấy vừa thì cho ra một dạng hỗn hợp nhuyễn và ông bắt đầu đúc gạch. Chỉ mấy phút sau khi nước rút, viên gạch cứng nhanh, mấy ngày sau đó cứng đến nỗi ông dùng búa đập mãi không vỡ. Và, đó chính là bí quyết mà người xưa đã tạo nên loại mộ hợp chất trường tồn với thời gian, "thách đố" hậu thế.
Ông Truật phân tích: "Cái hay ở chỗ, loại hợp chất này càng để lâu càng bền, tuyệt đối nước không thể thấm, nó còn là khắc tinh của nước mặn, trong khi bê tông, xi măng thì chào thua". Ông Truật chỉ ra rằng, hợp chất này khác bê tông xi măng ở chỗ, nó không chỉ cứng mà còn dai. Xi măng giòn dùng búa đập vỡ được, còn hợp chất này thì ngược lại, mật mía chính là yếu tố làm nên độ dai của nó. Sự liên kết của bê tông hợp chất cũng khác với đá, sau nhiều lần dùng búa thửa nghiệm, ông Truật thấy khi tác dụng lực vào hợp chất, lực không tỏa ra đối tâm như ở đá hoặc bê tông, mà nó phản lại, triệt tiêu lực ngay tại chỗ. Đó chính là đặc tính liên kết diệu kỳ mà người xưa đã nghiên cứu ra để xây mộ cổ.

