Hành trình tìm con của một… đại đội
GiadinhNet - Chiến tranh đã qua đi gần 40 năm, nhưng hình ảnh cô con gái nhỏ năm xưa vẫn nhức nhối trong tim những người cựu chiến binh.
Một bé gái mồ côi cả cha lẫn mẹ trong chiến tranh, sống giữa những căn nhà đổ nát được các chiến sĩ Đại đội 3, Tiểu đoàn 14 chiến đấu ở thành cổ Quảng Trị đem về nuôi nấng. Khi em biết gọi bố thì cũng là lúc cả tiểu đoàn phải chuyển quân chuẩn bị cho chiến dịch mới. Những người lính chân bước đi mà lòng nặng trĩu bởi tiếng gọi bố xé lòng của bé gái mồ côi….
Chiến tranh đã qua đi gần 40 năm, nhưng hình ảnh cô con gái nhỏ năm xưa vẫn nhức nhối trong tim những người cựu chiến binh. Họ đã trở lại chiến trường xưa, ngoài tìm mộ phần đồng đội đã khuất, còn có nguyện vọng rất lớn là tìm bằng được cô con gái nuôi của Đại đội.
![]() Chị Lý Thị Tuyết (bé Xuân An xưa) giữa những người bố nuôi nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập Sư đoàn 325 năm 2011. Ảnh: Xuân Trường |
Sống sót giữa trận chiến
Tháng 7/1972 chiến trường Thành cổ Quảng Trị như một chảo lửa khổng lồ. Đại đội 3, Tiểu đoàn 14 thuộc Sư đoàn 325 bám trụ bên bờ Bắc thuộc thôn Xuân An (xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) để chi viện cho quân ta bên Thành cổ. Một đêm cuối tháng 7, tổ tuần tra do đồng chí Quýnh (Trung đội trưởng) phụ trách, đang cảnh giới phía bờ sông chợt nghe tiếng lạch cạch va chạm của vỏ đồ hộp. Dưới ánh pháo sáng, các anh thấy trong đống đổ nát của những căn nhà bị bom pháo phá hủy có một bóng đen nhỏ tụt vào. Địch chăng? Không thể là địch được vì bóng đen rất nhỏ! Vậy bóng đen đó là gì? Ban chỉ huy quyết định đêm sau phải xác định rõ.
Màn đêm vừa buông, đồng chí Quýnh và các chiến sĩ bò ra khu vực hôm trước phát hiện ra bóng đen rồi phục kích. Chờ mãi không thấy động tĩnh nên anh em cử người cảnh giới và thay nhau vào hầm ngủ. Trận pháo kích vừa ngớt, giữa khoảng không gian đặc quánh mùi khói đạn không gian yên ắng lạ thường... và bỗng tiếng động của vỏ đồ hộp vọng đến. Chiến sĩ cảnh giới đá chân ra hiệu và dõi mắt tới chỗ phát ra tiếng động. Một bóng đen nhỏ thò đầu qua đống gạch đổ. Bóng đen ngửa cổ lên, dùng 2 tay ôm vỏ hộp dốc ngược... Có vẻ là một đứa trẻ sót lại sau những trận mưa bom, bão đạn vừa qua. Các anh tiến sát đến chỗ đứa trẻ. Nghe động, cháu bé thụt rất nhanh vào đống đổ nát mất dạng.
Quyết phải “bắt” cho bằng được đứa bé. Các anh khẳng định cháu bé dứt khoát phải ra khỏi chỗ trú ẩn để kiếm ăn khi ngớt tiếng pháo kích. Gần sáng, khi pháo địch vừa ngớt, các anh áp sát nơi trú ẩn, khi nó vừa thò ra khỏi đống gạch, bằng động tác chuẩn xác, một người chụp lấy đứa bé và bịt miệng không để cháu bé kêu (vì bên kia sông là địch).
Trong hầm đại đội, dưới ánh sáng leo lét mù mịt của ngọn đèn thắp bằng dầu đậu nành, các chiến sĩ đưa ra một bé gái khoảng 2 tuổi, chưa biết nói, người đen nhẻm, lấm láp toàn bùn đất và những nốt ghẻ lở. Anh em đoán chắc cha mẹ em bé đã chết vì bom pháo.
Con nuôi của tiểu đoàn
Các chiến sĩ giao đứa trẻ cho y tá đại đội chăm sóc, chữa trị ghẻ lở. Những bàn tay vụng về thô ráp của những người lính pháo đã may cho bé những bộ quần áo cắt ra từ vỏ chăn. Đại đội trưởng Hồ Mai đặt tên cháu là Hồ Xuân An, lấy họ của anh. Dưới những trận oanh kích dữ dội của địch, bé đã chập chững những bước đi đầu tiên, bập bẹ gọi bố... bố... mỗi khi có người tạt vào hầm quân y thăm. Hơn 1 năm sau, Xuân An đã chạy đi, chạy lại tung tăng giữa các hầm pháo, bi bô nói cười, bập bẹ hát theo các bố trong sư đoàn.
Cuối năm 1974, các đơn vị của Sư đoàn 325 lần lượt bàn giao tuyến chốt cho các đơn vị địa phương để chuyển quân, chuẩn bị cho những chiến dịch mới. Những ông bố nuôi ngậm ngùi trao Xuân An cho du kích ở xã chăm sóc. Trước hàng quân đi, cánh tay bé xíu của Xuân An chìa ra gọi bố ơi, bố ơi... cùng tiếng khóc xé ruột làm các chiến sĩ ngậm ngùi, nhưng vẫn phải gạt nước mắt bước đi.
Chiến tranh kết thúc, những người lính trở về với bao lo toan đè nặng giữa đời thường. Họ không thể quên những ký ức bom đạn năm xưa, không thể quên nơi mà rất nhiều đồng đội không trở về. Mái tóc của những cựu chiến binh càng bạc thì những câu chuyện sống và chiến đấu của quá khứ càng thôi thúc họ tìm lại đứa con nuôi năm xưa.
Anh Cao Huy Trang, quê Hưng Yên, cùng một số cựu binh đại đội 3 đã kết nối với các nhóm cựu chiến binh Sư đoàn 325 của Hưng Yên trở về chiến trường xưa tìm kiếm mộ phần các đồng đội đã hy sinh đưa về quê hương. Trong những chuyến đi về Quảng Trị, các anh đã trở lại Triệu Thượng để tìm lại đứa con nuôi. Hai du kích cũ là anh Chim và chị Diệp cho biết, sau năm 1975 không có ai là người thân của bé Xuân An trở về nhận người thân. Bé được trao cho bà Nữ làm con nuôi. Năm 1978, gia đình bà Nữ đi xây dựng kinh tế mới ở Nam Bộ, mọi thông tin về bé dừng lại ở đây.
Năm 2008, ông Trang cùng vợ chồng ông Nguyễn Văn Cường (nguyên là liên lạc đại đội), lên Đà Lạt thăm người Đại đội trưởng Hồ Mai năm xưa. Thông tin mà ông Mai biết là Xuân An đang làm công nhân cao su ở Đồng Nai. Ngay lập tức ông Trang, ông Mai và con trai tên là Thủy đi Đồng Nai tìm. Suốt 2 ngày đi hết các công ty cao su ở Đồng Nai mà không tìm thấy Xuân An.
Tình cờ tháng 4/2010, anh Lý Văn Tuấn là con trai bà Nữ đang là giáo viên tiểu học tại Bà Rịa - Vũng Tàu trở về thăm quê. Anh cho biết bé Xuân An xưa đã được bà Nữ đặt tên là Lý Thị Tuyết, đang sinh sống ở ấp 4B, xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc, Bà Rịa - Vũng Tàu. Tháng 7/2010 vợ chồng ông Trang, ông Mai và nhiều đồng đội xưa tới ấp 4B, xã Xuân Mộc tìm Xuân An.
Cả cái ấp khó nghèo 4B đã kéo đến nhà cô Tuyết (Xuân An) chứng kiến những giây phút cảm động của những người lính già đầu bạc sau bao năm ròng đã tìm thấy cô con gái nuôi. Tuyết kể, cô theo gia đình mẹ nuôi vào đây làm công nhân cao su. Hoàn cảnh của những người đi xây dựng vùng kinh tế mới vô cùng vất vả, cô đã đồng cảm và kết hôn với anh Lê Đỗ Thành người cùng huyện Triệu Phong, Quảng Trị. Giờ con lớn của họ đang học đại học, đứa bé nhất mới lên 10.
Ngày 6/3/2011, các cựu chiến binh Đại đội 3, Tiểu đoàn 14 đã đón Xuân An (Tuyết) ra thăm Yên Mỹ, Hưng Yên - quê hương của những ông bố nuôi - những người đã cứu sống, che chở, chăm sóc cô trong những ngày bom rơi đạn nổ. Cuộc đón tiếp nồng hậu, niềm vui vỡ òa xen lẫn những giọt nước mắt trên những khuôn mặt của những người lính già.
Xuân Trường
