Hồi ức Điện Biên của một Thiếu tướng
GiadinhNet - "Trong nhiều trận sinh tử ở chiến trường hồi đó, tôi vẫn nhớ nhất là trận chiến đồi Độc Lập".
![]() Bức ảnh ghi lại khoảnh khắc Đại tướng Võ Nguyên Giáp ôm hôn đồng chí Bùi Đức Tùng, nguyên chiến sĩ Sư đoàn 2 tại mặt trận phía Nam |
Trong ngôi nhà đơn sơ ở xóm 24 Nghi Phú (Vinh, Nghệ An) có một người lính cụ Hồ năm nay đã bước sang tuổi 85. Bước ra khỏi chiến tranh, cũng như bao người lính, ông hòa mình vào với cuộc đời bình dị, chân chất. Ông là Thiếu tướng Bùi Đức Tùng - nguyên là Trung đội trưởng Trung đội 3, Tiểu đoàn 542, Trung đoàn 165, Sư đoàn 312- một trong những đơn vị chủ lực của quân đội ta lúc đó.
Trận chiến 56 ngày đêm
Năm 1947, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chàng trai xứ Nghệ Bùi Đức Tùng rời quê nghèo xã Thạch Sơn (Anh Sơn, Nghệ An) hăng hái lên đường nhập ngũ. Ông được giao nhiệm vụ Trung đội trưởng Trung đội 3, Tiểu đoàn 542, Trung đoàn 165 thuộc Sư đoàn chủ lực 312 tham gia trực tiếp các chiến dịch chống Pháp ở Tây Bắc.
"Trong nhiều trận sinh tử ở chiến trường hồi đó, tôi vẫn nhớ nhất là trận chiến đồi Độc Lập”- Ông chia sẻ. Đây là một trong hai cánh cửa thép của tuyến phòng ngự phía Bắc bảo vệ trung tâm Mường Thanh do tiểu đoàn 5 Bắc Phi hung hãn được trang bị nhiều vũ khí hiện đại, thiện chiến và một đại đội lính ngụy Thái trấn giữ nghiêm ngặt.
Xung quanh ngọn đồi là chằng chịt dây thép gai, với dày đặc cái loại mìn phòng ngự. Việc tiêu diệt đồi Độc Lập là nhiệm vụ bắt buộc được đưa ra trong đêm 14/3/1954. “Khi đó, trời mưa như trút, bùn nhão, pháo hỏa tiễn của Pháp bắn liên hồi. Ban đêm, địch thả pháo sáng như ban ngày nên mọi di biến của quân ta đều phải rất cẩn thận để tránh bị phát hiện” - Thiếu tướng Tùng nhớ lại thời khắc chuẩn bị khai hỏa đánh đồi Độc Lập.
"Thế nhưng khi mọi phương án tấn công đã sẵn sàng thì đơn vị cối chi viện chưa thể đến được vì trời mưa to quá. Giờ khai hỏa bắt buộc phải lùi lại. Đến đúng 3 giờ sáng, lệnh nổ súng mới được bắt đầu. Sau hơn 40 phút, bộc phá đã mở xong cửa, tiểu đội mũi nhọn ào ạt xông lên nhưng gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ của địch.
Pháo binh nhích từng mét để đến trận địa trong khi đó các mũi chủ lực bắn dồn dập về phía trận địa pháo của địch để hạn chế lại sự chống trả. Sau gần 1 giờ đấu pháo, hai bên tranh nhau, giành đi, giật lại từng đoạn chiến hào. Cuối cùng quân ta đã tấn công vào các cứ điểm trung tâm.
Địch điên cuồng chống trả, sự hi sinh của quân ta lúc đó không thể nói hết. Nhưng với quyết tâm người trước ngã xuống, người sau tiến lên, một mũi chủ lực của ta bắt được một số tù binh và ép chúng dẫn thẳng đến trận địa khối, phá hủy 4 khẩu 120 li của địch.
Đến 6 giờ 30 sáng 15/3, địch bỏ trận địa, tháo chạy về trung tâm Mường Thanh. Quân ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm đồi Độc Lập, tiêu diệt gần 500 tên địch, bắt sống hơn 200 tên, xóa sổ toàn bộ tiểu đoàn 5 Bắc Phi, tịch thu toàn bộ vũ khí".
Còn về cuộc chiến đấu trên đồi A1, ông Tùng nhớ lại: "Do đồi A1 có vị trí vô cùng quan trọng nên địch đã cho một tiểu đoàn lính Âu Phi chiếm giữ. Sau 4 ngày chiến đấu, quân ta cũng mới chỉ chiếm được một phần nhỏ của khu vực trọng yếu này.
Lúc này Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết tâm bằng mọi giá phải đào được đường hầm, đưa thuốc vào làm nổ tung hệ thống hầm ngầm ở đây. Đơn vị tôi được lệnh nhiệm vụ đào hầm, công sự tiến về sân bay Mường Thanh. Việc đào hầm phải tuyệt đối bí mật. Ban ngày nằm trong hầm phía bìa rừng, đến 6 giờ chiều, các mũi đào giao thông hào được ngụy trang kĩ bắt đầu lên đường đào hào. Vừa đào vừa ngụy trang, che mắt địch”.
Lúc đó, điều kiện vô cùng gian khổ, hiểm nguy, hào đào đến đâu, bùn non lấp đến đó khiến cho việc di chuyển trong các hào trục vô cùng khó khăn. Nhiều đoạn vừa phải đào hào vừa bốc bùn non vừa ngụy trang, che mắt địch và cầm hơi, lấy sức bằng những vắt cơm đùm, cơm nắm trộn lẫn bùn, máu của đồng đội.
Nhiều chiến sỹ hai bàn tay phồng rát, mọng nước rồi dần dần chai sần. Lưỡi xẻng ban đầu còn sáng loáng, tròn trĩnh, sắc lẹm nhưng đến khi đào xong chiến hào mòn vẹt, chỉ còn trơ lại một mảnh sắt nhỏ, cong queo...
Và rồi với quyết tâm cao, quân ta đã vượt qua được tất cả để đúng giờ G, khối bộc phá ngàn cân đã đựoc phát nổ. Đây cũng là mệnh lệnh tấn công đợt cuối cùng, tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ".
"Ngày 7/5, quân ta giải phóng hoàn toàn Điện Biên Phủ. Chấm dứt hoàn toàn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp trên đất nước ta. Khi lá cờ quyết chiến, quyết thắng của ta tung bay dưới bầu trời Điện Biên Phủ cũng là lúc toàn bộ quân lính thực dân Pháp kéo cờ trắng lần lượt ra đầu hàng, tướng De Castries bị bắt sống. Đứng trên đồi D1 nhìn xuống, chúng tôi ai cũng thấy lòng mình rạo rực, rưng rưng..." - Vị tướng già nhớ lại thời khắc lịch sử giải phóng Điện Biên Phủ.
Với người lính, chưa thống nhất thì chưa rời mặt trận do vậy, sau khi giải phóng Điện Biên, chiến sĩ Bùi Đức Tùng lại lên đường vào tham gia chiến trường miền Nam. Ông gia nhập binh đoàn chủ lực Quân khu 5, trực tiếp tham gia các chiến dịch lớn như Đường 9 – Nam Lào, Mậu Thân 1968, Đông Dương, Sa Huỳnh, Ba Gia, Vạn Tường… và đặc biệt là tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, trực tiếp giải phóng Đà Nẵng, Quảng Nam.
Đất nước thống nhất, người lính Bùi Đức Tùng tiếp tục tham gia công tác tại Quân khu 5, Quân khu 4 rồi Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An. Năm 1983, ông Bùi Đức Tùng được phong hàm Thiếu tướng.
Trở về với đời thường
![]() Thiếu tướng Bùi Đức Tùng |
Sau cuộc đời binh nghiệp, ông lại trở về sống bình dị với vợ con và các cháu. Hàng ngày, ông trở dậy từ tinh sương, làm bạn với những chậu lan, chậu sen... Nhưng với bản chất người lính cụ Hồ, người lính già đã không thể chấp nhận cảnh sống an nhàn lúc xế bóng.
Ông cùng đồng đội cũ lại lặn lội tới từng địa chỉ, vận động và kết nối... Sau những nỗ lực, ban liên lạc chiến sỹ Điện Biên Phủ tại thành phố Vinh đã lên 80 cụ. Người ít tuổi nhất năm nay đã bước sang tuổi 76, còn người cao tuổi nhất năm nay đã ở ngưỡng cửa 97 tuổi. Trong số 80 cụ, hầu hết vẫn nhiệt huyết tham gia vào các các chức danh của Hội Cựu chiến binh các cấp, Hội Người cao tuổi, Mặt trận Tổ quốc...
Mỗi năm một lần, họ lại tìm về mái nhà chung, sự ấm áp của nghĩa tình đồng đội, nhiều người đã vượt qua khó khăn, bệnh tật, chiến thắng được đói nghèo. Trong câu chuyện những lần gặp mặt, họ vẫn không quên nhắc về đồng đội một thời- những người đã ngã xuống và những người hôm nay đã làm nên niềm tự hào là chiến sỹ của Sư đoàn 312.
Hồ Hà

