Hôn nhân gia đình của người Ba Na

Người Ba Na phổ biến hình thức luân cư: ở bên vợ rồi ở bên chồng. Chỉ khi kết thúc các chu kỳ luân cư này, đôi vợ chồng mới ra ở riêng tạo lập cơ ngơi của một gia đình, một tế bào mới của cộng đồng làng.

Ngư­ời Ba Na cho phép tự do tìm hiểu và lựa chọn bạn đời, việc c­ưới xin đều theo nếp cổ truyền. Hôn nhân một vợ, một chồng là nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng gia đình.

Tuy chế độ mẫu hệ ở người Ba Na đã tan rã nhưng tàn dư của nó vẫn thể hiện rõ trong quan hệ gia đình, tộc họ và trong hôn nhân. Vì vậy, địa vị của nam giới đã được nâng lên trong các quan hệ này, nhưng phía mẹ vẫn gần gũi hơn phía cha.

Hình thức luân cư (ở bên vợ rồi ở bên chồng) sau lễ cưới rất phổ biến - theo thoả thuận giữa gia đình đôi bên. Kết thúc các chu kỳ luân cư thì đôi vợ chồng ra ở riêng tạo lập cơ ngơi của một gia đình mới, một tế bào mới của cộng đồng làng.

Trẻ em luôn đ­ược yêu chiều. Dân làng không đặt trùng tên nhau. Trong trường hợp những người trùng tên gặp nhau, họ làm lễ kết nghĩa, tùy tuổi tác mà xác lập quan hệ anh - em, cha - con, mẹ - con… Các con đư­ợc thừa kế gia tài ngang nhau.  

Vài nét chính về dân tộc Ba Na

Tên tự gọi: Ba Na.
Tên gọi khác: Tơ Lô, Giơ Lâng, (Y Lăng), Rơ Ngao, (Krem), Roh, Con Kde, A La Công, Kpăng Công, Bơ Môn.
Nhóm địa phương: Rơ Ngao, Rơ Lơng (hay Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar Krem.
Dân số: 136.859 người.
Ngôn ngữ: Nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Cư­ trú: Cư­ trú chủ yếu ở Kon Tum và miền Tây Bình Định và Phú Yên.

 

Lễ hội đâm trâu của người Ba Na

 

Nhà rông Ba Na

 

Thiếu nữ Ba Na

 

Làm gạo cho những bữa ăn đông người

 

Làm gạo cho những bữa ăn đông người

 

xahoi