Lão ngư trồng rừng bám biển

GiadinhNet - Nhà tui cũng nghèo, nhưng không nghèo bằng người khác. Ai đến đây ở với tui hễ đói thì cho ăn, khát tui cho uống, tui không bao giờ ăn một mình đâu.

Vợ chồng ông Lán. Ảnh: H.L.

 
"Nhà tui cũng nghèo, nhưng không nghèo bằng người khác. Ai đến đây ở với tui hễ đói thì cho ăn, khát tui cho uống, tui không bao giờ ăn một mình đâu", ông Nguyễn Lán - Cựu chiến binh ở thôn Hội Thành II (xã Xuân Hội, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) đã mở đầu câu chuyện với tôi như thế. Năm nay đã 83 tuổi, ông Lán đã hơn nửa đời người tình nguyện bám biển, trồng cây gây rừng, làm chỗ dựa cho người đi biển ở cửa biển Xuân Hội.

Làm đơn xin trồng cây bảo vệ biển

Về thôn Hội Thành II, đi dọc theo con đường đê biển xã Xuân Hội là cả một rừng phi lao và những dãy tre ở dưới đê xanh mướt. Hỏi ra thì mới biết rằng tất cả những dãy tre, phi lao bên bờ biển ấy là đều do một tay ông Nguyễn Lán trồng nên.

Nằm sâu trong vườn tre, tiếp chúng tôi trong căn nhà tranh đơn sơ, ông tỏ ra niềm nở và nói chuyện rất nhiệt tình. Ông Nguyễn Lán sinh năm 1929 tại xã Xuân Hội. Gia đình ông Lán có tới 11 người con, ông còn nhận thêm một người con nuôi nữa là 12 người. Sau quãng thời gian tham gia quân ngũ trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông trở về quê hương. Năm 1986, ông cùng vợ tình nguyện ra cửa biển Xuân Hội dựng nhà, trồng cây chắn sóng, sống cuộc đời bám biển.

Đã ở tuổi ngoại bát tuần, nhưng trông ông Lán vẫn khỏe mạnh. Ông kể rằng, khi ông ra đây với ý định là xin trồng cây để bảo vệ biển, người dân và chính quyền không ai tin. Họ nghĩ rằng ông nói đùa. Sau khi ông làm đơn lên chính quyền xã Xuân Hội xin được phép canh giữ đê biển thì mọi người mới biết được tấm lòng của ông. Ông cho chúng tôi xem rất nhiều giấy tờ liên quan, nào là đơn xin canh giữ đê biển, rồi lệnh canh giữ đê biển... Ông cười và nói: "Lúc cầm những tờ giấy này thì sướng lắm, cảm giác như tâm nguyện của mình đã được mọi người ủng hộ".

Đang trò chuyện, ông chỉ tay ra vườn tre, dãy phi lao xanh mướt và nói: "Xung quanh đây tất cả cây cối đều do tui trồng hết đó". Với ông thì trồng tre và phi lao là để giữ đất, làm cho đất không sạt lở, vừa bảo vệ được bờ biển, vừa có thể giúp người dân trong làng không bị lũ lụt thiên tai đe dọa. Nhờ vào vườn tre xanh tốt ấy, cứ đến ngày đông hay những lúc mưa gió, bão lũ là ông lại chặt tre, rồi đi mua thêm cây về rào để chắn sóng. Dù ông trồng rất nhiều cây rồi, nhưng khi trò chuyện ông cứ luôn miệng tiếc rẻ: "Tui mà còn trẻ, tui trồng hết đất ở đây luôn, giờ thấy lãng phí đất nhiều quá".

Tuy nhiên, trong suốt mấy chục năm bám biển, cũng đã có lần ông gặp phải những sự cố và tai nạn hy hữu. Nói rồi ông kể lại một câu chuyện cách đây mấy năm trước. Khi đó, có một nhóm thanh niên đi chặt trộm phi lao. Biết chuyện, ông Lán đã ra khuyên ngăn họ: "Các anh đừng chặt cây giờ này, bây giờ đang là buổi tối. Người ta nói các anh ăn trộm. Cứ để tới buổi sáng, tui sẽ cho các anh mỗi người hai cây mà đem về. Bây giờ tui không cho các anh được, vì lỡ nếu tui cho rồi, các anh lại đi chặt của người khác nữa, rồi tui lại là người mang tiếng tiếp tay cho kẻ trộm...". Vậy nhưng nhóm thanh niên đó không hiểu chuyện và cho rằng ông đã cản trở họ, thế là họ đã đánh ông gãy răng, rồi ngón tay trỏ của ông đã bị con dao của họ xẻ dọc, bể đôi khiến sau đó ông phải tháo khớp. Sau lần đó, sức khỏe của ông cũng bị ảnh hưởng, làm việc khó khăn hơn.

Vào những năm trước, người đi biển còn nhiều, ông dựng một giàn giáo cao ngay cạnh đê biển. Cứ mỗi tối, ông cầm ngọn đèn măng-sông đứng trên giàn soi đường cho người đi biển cập thuyền vào bờ. Ngọn đèn của ông Lán đã chiếu sáng và cưu mang cho không ít người dân đi biển nơi đây.
 

Ông Lán bên cánh rừng phi lao trên biển.

Tấm lòng bên biển khơi

Là một cựu chiến binh, ông luôn tâm niệm những điều Bác Hồ răn dạy các chiến sĩ: Đó là phải hết mình vì nhân dân phục vụ. Vậy nên căn nhà nhỏ của ông là nơi nương tựa cho rất nhiều ngư dân đi biển. Có thời điểm, ông đã nuôi gần 50 người. Ông bảo rằng người đi biển ở đây có nhiều số phận bất hạnh lắm, đa số toàn phụ nữ góa chồng, rồi đàn ông bị vợ và con cái bỏ rơi phải lênh đênh trên biển để mưu sinh. Ông thương họ lắm: "Mặc dù tui cũng nghèo, nhưng đối với họ thì đói tui cho ăn, khát tui cho uống, không bao giờ tui ăn một mình đâu".

Hồi đó, với những đồng tiền ít ỏi của hợp tác xã hỗ trợ, ông bỏ ra mua thuyền, lưới, vó... để ngư dân trong nhà đi đánh cá. Mọi người đi đánh cá ban ngày, ban đêm về ngủ, sinh hoạt ở nhà ông. Ông không hề lấy tiền công của họ dù chỉ một đồng. Tiền đánh cá họ làm được, ông bảo họ cứ dành dụm đó để dành sau này lỡ có xảy ra mệnh hệ gì thì còn có mà phòng thân. Ở với ông có gì ăn nấy, cảm thấy vui là được. Phương châm của ông Lán là "lấy ngắn nuôi dài". Ông trồng cây tre thỉnh thoảng lấy măng, rồi nuôi gà, đi đánh cá... thế là đủ lo cho cuộc sống của hai ông bà và giúp đỡ những ngư dân. Những người ở đây, có người ở một vài tháng, thế nhưng cũng có người ở nhà ông tới tận 4-5 năm.

Không chỉ là chỗ dựa, ông Lán còn là vị cứu tinh, vị ân nhân của người dân ở khắp huyện Nghi Xuân. Hễ những lúc biển động, sóng to gió lớn, ông Lán là người đầu tiên ra biển quan sát xem có ai gặp nạn không, rồi ông lấy thuyền, lấy phao đi ra biển để cứu họ. Có lần, ông cứu được 37 người thoát chết trong một lần biển động. Ngoài ra, hễ bất cứ nơi đâu nghe tin có người bị ngã sông, ao hồ là ông lại có mặt để giúp đỡ. Ông nói: "Không ai cứu thì tui cứu!".

Có một kỉ niệm khi đi cứu người mà ông nhớ mãi. Đó là lần cứu cô Tươi (ở Xuân Liên, Nghi Xuân). Ông nhớ lại: "Khi thấy cô Tươi bị sóng xô, tui ngay lập tức nhảy xuống để cứu. Lúc đó cô nắm người tui: Nhờ bác cứu cháu với. Tui bảo: O (cô) nắm rứa thì tui cứu mần răng, tui chết thì O cũng chết thôi. Thế là tui xô người cô Tươi ra, rồi lặn xuống đẩy cô Tươi lên bờ". Lần đó ông cũng suýt chết bởi vì đã uống khá nhiều nước. Bây giờ hễ ai đi ngang đó mà có cảm giác sợ sệt thì ông đều ra nói to rằng "Có ông Lán đây rồi" để cho họ đỡ sợ.

Ở trong làng, trong xã, ông Lán luôn giúp đỡ những gia đình nghèo khổ bất hạnh. Có gia đình cô Phúc ở Xuân Trường, ông thấy gia đình nghèo quá, không có nhà ở, thế là ông chặt tre giúp cô làm nhà. Nhiều người thấy ông làm thế liền bảo: "Sao ông không làm nhà cho ông?". Ông liền đáp lại rằng: "Nhà tui tuy thế nhưng vẫn còn ở được. Tui mà làm nhà cho tui thì nhiều người lại không có nhà mà ở".

Đã từng trải qua thời quân ngũ và là một người cống hiến nhiều cho xã hội, nhưng ông Lán không đòi hỏi cho mình bất cứ chế độ gì. Ông bảo ngày xưa bị lũ lụt cuốn trôi hết giấy tờ nên không làm được thủ tục hưởng chế độ. Nói rồi ông cắt ngang: "Mình sống lâu thế này là may rồi, mình không đòi hỏi. Mình nghèo, nhưng nhiều người nghèo hơn mình gấp trăm lần".

Với tuổi đời đã khá già, nhưng nhìn vào ánh mắt của ông thì vẫn còn khao khát lắm. Tâm nguyện lớn nhất của ông bây giờ là mong mình còn sức khỏe để có thể tiếp tục công việc của một người canh giữ đê biển, góp phần hỗ trợ nhân dân, xây dựng đất nước. Khi chia tay, ông không quên trao cho chúng tôi cái ôm nồng ấm. Chúng tôi cảm nhận được rằng, giữa những làn gió biển, sóng ào ào xô. Giữa những vườn tre, vườn phi lao xanh mướt là một tấm lòng đầy trách nhiệm, nhân hậu, nhiệt huyết bên biển khơi.
 

Giấy tình nguyện xin trồng cây phi lao do ông Lán viết gửi lên chính quyền.

 
Năm 2003, ông Lán là đại biểu tham dự Hội nghị toàn quốc người cao tuổi làm kinh tế giỏi ở Hà Nội. Ông bảo: "Nếu chỉ lo vun vén cho mình thì tôi cũng có thể có gác, có lầu đàng hoàng. Nhưng nhìn những người xung quanh còn thiếu cơm, thiếu việc nên mình giúp cho họ ổn định đời sống trước đã. Như mình xưa, không có người cho bát cơm chắc gì đã có ngày hôm nay...".
Hùng Lê
baocuoituan