Ông ăn mày trở thành nhà văn

GiadinhNet - Gặp anh để thêm một lần trải nghiệm, để được tin rằng hạnh phúc là điều có thật luôn hiện hữu ở người đàn ông khiếm thị đầy ý chí và nghị lực.

Chúng tôi tìm đến gặp anh trong một chiều đông hanh giá. Nhịp sống của vùng quê bán sơn địa chầm chậm, thong thả, thư thái sau những lũy tre già u uất. Gặp anh để thêm một lần trải nghiệm, để được tin rằng hạnh phúc là điều có thật luôn hiện hữu ở người đàn ông khiếm thị đầy ý chí và nghị lực.
 
Định mệnh nghiệt ngã
 

Nhà văn Nguyễn Trung Thành. Ảnh: T.L

 
Đêm ấy, lần đầu tiên trong đời, anh đã viết những vần thơ trong nước mắt. Cũng trong đêm ấy, Thành đi đến quyết định chấm dứt cuộc đời hành khất ăn xin, đưa con gái trở về quê - nơi vợ và các con đang đợi.
Nguyễn Trung Thành từ trụ sở Hội người mù trở về trong căn nhà nhỏ xinh xắn của anh ở phường Hòa Hiếu, thị xã Thái Hòa (huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An) để cùng chúng tôi trò chuyện. Đưa tay quờ quạng tìm chén nước trên bàn, giọng đang sang sảng chợt chùng xuống, những ngón tay gầy guộc run run, anh thả tầm nhìn ra xa hơn. Ký ức buồn đau hiện về trong anh như một cuốn phim quay chậm.
 
Năm 1967, khi đang còn học tiểu học, ngôi nhà Thành bị trúng bom Mỹ. Sức ép của bom đã gây tổn thương đáy mắt. Sau nhiều lần chịu đựng những cơn đau buốt đáy, đến năm 19 tuổi thì hai mắt anh mù hẳn. Đó là một ngày đông giá rét, khi Thành đang còn đọc giở chương 8 tiểu thuyết "Sông Đông êm đềm" của văn hào Nga Solokhov thì thấy mắt mình nhức buốt, đầu vang váng, trời đất quay cuồng. Gục đầu trên trang sách, Thành mê đi.
 
Tỉnh dậy dụi mắt, những dòng chữ không còn nằm im mà như có chân chạy lung tung, cảnh vật trước mắt bỗng nhòa đi. "Câu nói của nhà văn mù Ấn Độ mình đọc hôm nào giờ hiện lên xa xót: "Người mù phải chết hai lần, lần đầu là không còn được đọc sách, ngắm nhìn thiên nhiên, người thân thương, bạn hữu. Lần thứ hai là hóa thân vào đất đai". Trời ơi! Sự tối tăm này đồng nghĩa là mình sẽ phải trải nghiệm sự khổ đau này suốt cuộc đời ư?", anh nhớ lại.
 

Vợ chồng nhà văn Nguyễn Trung Thành. Ảnh: T.G

 
Không còn gì để bấu víu, để hy vọng, Thành ước mình có thể nằm đây với một giấc ngủ không bao giờ tỉnh lại. Anh muốn chết! Đúng cái giây phút Thành đang xoay xoay cố vặn mở nắp chai thuốc trừ sâu, thì Thanh, người bạn thân cạnh nhà lao tới: "Thành! Mày làm gì thế? Sao mày liều thế? Mày không thương bố mẹ à? Mày từng nói với tau là phải sống có nghị lực như Meresev, như Pavel mà. Thành ơi! Sao mày tệ thế? Hứa đi, hứa với tau là đừng bao giờ làm lại cái trò dại dột này nữa...". Những lời nói thốt ra từ gan ruột của người bạn thân đã khiến Thành choàng tỉnh. Nhưng trong đầu anh, cái con đường tăm tối ấy bỗng hút xa, đáng sợ biết bao.
 
Hạnh phúc đơn sơ
 
Thành đứng dậy, lao vào công việc và quên đi nỗi bất hạnh. Anh tìm sự say mê, niềm vui trong cái nghề đan lát cổ truyền. Đan được bồ (dụng cụ đựng nông phẩm bằng tre - PV)  rồi anh gánh bồ, tay đỡ vai mẹ, mò mẫm cùng mẹ lên chợ lúc nửa đêm. Một ngày, trong khi đang cùng mẹ từ chợ tất tả trở ra thì gặp bà Mai ở làng bên đang ngồi nghỉ vì gánh khoai quá nặng. Không chờ bà cụ đồng ý, Thành gánh giúp bà. Thành không ngờ, hình ảnh đó đã khiến trái tim tuổi 20 của Chính, cô con gái yêu của bà Mai run rẩy, xao xuyến. Tự đáy lòng Chính bỗng thấy trào dâng một tình cảm thân thiện, gần gũi, đồng cảm, sẻ chia với người con trai tật nguyền mới lần đầu gặp mặt.
 
Vượt qua bao thử thách, sự ngăn cản, lời đàm tiếu, hai người đến với nhau bằng tất cả tình yêu thương. Thành bảo: Cuộc đời bao giờ cũng là những bất ngờ phía trước, nhưng anh cũng không tin nổi vì sao Chính lại có thể tình nguyện kết hôn với một người mù như anh?  Bữa đó, khi Chính ghé vào tai anh thổn thức: "Em ước, dù đắng cay, khổ đau, giàu có hay nghèo hèn, miễn là chúng mình có nhau". Giây phút đó, anh muốn nói ra một điều gì đó, nhưng anh đã không thể... và chỉ biết lặng yên lắng nghe tiếng đập mạnh từ trái tim của Chính. Ngoài kia làn gió biển thổi về mát rượi. Hai giọt nước từ khóe mắt anh lăn tròn trên má.
 
Sau đám cưới nghèo, vợ chồng anh ra ở riêng trong ngôi nhà tranh vách nứa chưa đầy 12m2. Cuộc sống với những khó khăn chồng chất càng trở nên cơ cực, bi đát hơn khi nhà có đến mấy miệng ăn, khoai sắn cũng không đủ no. Sức khỏe không tốt, sau vài lần sinh nở, vợ anh kiệt sức, không làm được việc nặng. Thành hiểu rằng, giờ đây Chính đang cần đôi vai của anh, kể cả đôi tay huơ huơ dò dẫm. Anh  nghĩ: Đôi tay mình khỏe hơn, phải là chỗ dựa cho cả gia đình. Với cây gậy trong tay, người đàn ông mù lòa ấy đã dò dẫm lội khắp các ao trong làng mò cua, bắt ốc. Có những hôm mưa to, không xác định được hướng về, anh cứ chờ khi nào có tiếng loa phát thanh mới lần được về nhà.
 
Ròng rã mười năm như thế, những con ốc, con cua đã nuôi sống cả gia đình anh. Nhưng tai ương lại giáng xuống. Năm 1994, sau một cơn cảm hàn biến chứng vợ anh gần như liệt hẳn. Gia đình rơi vào bước đường cùng.  Đêm ấy, trong mưa gió bão bùng, cha con anh đã dắt nhau bỏ làng, giã từ mái ấm, tay gậy tay bị bắt đầu cuộc đời hành khất. Nguyễn Trung Thành ngậm ngùi: Trong cuộc đời đầy bể khổ của mình, không thể không nhắc đến những năm tháng tha phương cầu thực. Người cha thì mù lòa, đầu đội nón mê, một tay vác loa, một tay đặt trên vai con lần từng bước đi. Còn con bé 9 tuổi lầm lũi dẫn cha đi. Cả hai cha con lang thang khắp nhiều làng quê, quán xá, ngõ phố, bến tàu, bến xe, các quán cà phê, trường học. Họ vừa đi vừa "xuất bản miệng" những tác phẩm "một thời vang bóng" như: Bỉ vỏ, Lục xì, những bài thơ lãng mạn của Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử... 
 
Nhưng rồi, xin được miếng ăn từ tay thiên hạ không phải là chuyện dễ dàng. Mãi cho đến bây giờ, anh vẫn không thể quên được cơn giông chiều mùa hạ năm 1994 ở Quảng Bình đã khiến cuộc đời anh rẽ sang bước ngoặt mới. Thành kể, lúc đó vào trú mưa, anh được cô gái bán quán đọc cho nghe chuyện ngắn "Tên em là Xiêm Huệ" của nhà văn Bá Dũng. Những chi tiết, những nhân vật trong truyện khiến anh bừng tỉnh. Thành nhận ra trên đời này còn có bao tấm lòng nhân ái, bao mảnh đời bất hạnh đang ngày đêm phấn đấu, vươn tới hi vọng. Thành không thể mãi là người hành khất, con anh không thể thất học trong cảnh tủi cực, đắng cay. Mất ánh sáng đôi mắt, nhưng Thành còn bao người thân thiết, còn có đôi tay và khối óc cơ mà.
 
Những vần thơ cứu rỗi
 

Để có những tác phẩm văn học, anh phải đâm hàng nghìn nét chữ Braille qua những bản thảo chữ nổi.

 
Về quê, anh gia nhập Hội người mù, tham gia học chữ nổi Braille. Các đầu ngón tay vốn quen mò cua bắt ốc giờ tiếp xúc với các kí hiệu chữ nổi trên mặt giấy khiến anh cảm thấy khó khăn vô cùng.
 
Không còn con đường nào khác là phải vượt qua mọi khó khăn để hướng đến tương lai, ý nghĩ đó giúp anh lấy lại can đảm. Sau mấy tháng khổ luyện, anh đã đọc thông viết thạo chữ Braille. Anh nói: Ban đầu, sờ đọc những tác phẩm văn học, tạp chí anh đã tiếp nhận, mở mang nhiều kiến thức bổ ích. Anh bắt đầu mạnh dạn mày mò tập sáng tác văn thơ và viết báo. Mỗi lần lên cơn viết, chữ Braille không thể diễn đạt kịp dòng suy tư, nó sẽ cắt đứt, gián đoạn mạch văn, do vậy vợ anh luôn cầm bút giúp chồng.
 
Trong căn nhà nhỏ bé ấy, chồng đọc, vợ ngồi bệt xuống nền đất chép. Chị cố ghi lại đầy đủ từng lời, từng đoạn. Đêm, chỉ còn lại ngọn đèn dầu là vẫn thức với vợ chồng anh đến cạn. Nhuận bút thất thường, cơm áo vẫn không đủ ăn, anh xoay sang hướng khác. Viết kịch bản cho chuyên mục "Câu chuyện truyền thanh" đọc trên đài phát thanh. Lần đầu tiên nghe kịch bản truyền thanh của mình phát sóng ở đài tỉnh, anh lặng đi vì xúc động. Anh bảo, không thể ngờ được niềm hạnh phúc lớn lao này lại đến với một người mù đã có những tháng ngày hành khất. Sự tự ti, mặc cảm của thân phận mù dần được nguôi vơi.
 

Tủ sách gia đình được hình thành từ những chuyến đồng nát của người vợ tảo tần.

 
Thương chồng, chị Chính chuyển sang nghề đồng nát mưu sinh. Và từ cái nghề vất vả này đã vun đắp cho tủ sách gia đình với hàng nghìn cuốn tiểu thuyết, sách nghiên cứu... Qua những lượng thông tin quí giá này, anh hiểu ra sáng tạo văn học nếu chỉ vì niềm đam mê, nhiệt tình thì chưa đủ, mà cần có sự hiểu biết và từng trải. Anh mò mẫm tìm đến những người dân lao động để tìm hiểu hoàn cảnh cuộc sống và tâm tư của họ. Nhưng rồi, sau tất cả những lo toan, bươn chải thì văn chương không chỉ là cái cần câu cơm mà còn là nơi nương náu bình yên nhất của tâm hồn anh.
 
Trong tất cả sáng tác của anh, thông điệp người ta nhận ra là ý chí, nghị lực vượt lên số phận, vượt lên nỗi bất hạnh để sống và viết.
 
Với Nguyễn Trung Thành, khi viết những câu thơ là anh đã ký thác tâm trạng và ước mơ của mình vào đó, rồi gửi gắm nó vào đời sống, như thể gieo một mầm cây.
 
Chúng tôi hỏi chị Chính, điều gì đã khiến chị tình nguyện kết hôn với một người mù như anh? Chị Chính không một chút đắn đo: "Là mang lại hạnh phúc cho anh ấy". Chợt nhớ lại câu chuyện dân gian của Đức mà hồi nhỏ tôi đã từng đọc đại ý: "Một ngày trong nhà thờ có 10 đám cưới, Chúa trời hỏi các cô dâu: "Lấy chồng để làm gì?". 9 cô trả lời: "Để được hạnh phúc", duy chỉ còn một cô là trả lời: "Mang lại hạnh phúc cho chồng". Đức Chúa trời kết luận: "Chỉ có 1 cô hạnh phúc". Câu chuyện ấy, giờ đây chiêm nghiệm mới thấy đúng làm sao.
 

Vượt lên số phận, đứng dậy giữa dòng đời nghiệt ngã, Nguyễn Trung Thành đã sống và viết. Đến nay, người đàn ông kiếm thị ấy đã cho ra đời 7 đầu sách gồm thơ, tiểu luận và truyện ngắn: Tiếng lòng, Khúc ru lòng (thơ); Hương Đại (Tiểu luận); Thủ lĩnh cóc tía (truyện thiếu nhi); Phục thiện, Nẻo Khuất (tập truyện ngắn)... Anh cũng đã từng nhận các giải thưởng như: Giải B truyện ngắn Báo Nghệ An 1996; Giải C Tạp chí Đời mới - Hội người Mù Việt Nam; Giải khuyến khích văn học của Đài TNVN năm 2005; Tặng thưởng Hồ Xuân Hương lần 3; Giải Ba luận văn - Liên hiệp Hội người mù Onkyo Đông Á Thái Bình Dương năm 2005; Giải Khuyến khích chuyện đời tự kể Báo Tuổi trẻ năm 2006... Đặc biệt năm 2010, ông vinh dự nhận thêm 3 giải: Giải thưởng đặc biệt vượt lên số phận do Tạp chí Thanh niên; Giải C UBTQ các Hội VHNTVN với tiểu thuyết Nẻo Khuất và giải đặc biệt cuộc thi Nguồn sáng đời tôi do TƯ Hội người Mù tổ chức.

 
Hồ Hà- Hữu Quyết
kimngan