|
|
|
Nhà thơ Trần Đăng Khoa. Ảnh: TL |
Giấc mơ “bát cơm đầy”!
Ông Giời ở đâu thì chẳng ai biết! Không biết nên mới sợ. Có một câu thần chú truyền lại từ bao đời mà không người nông dân nào không biết:
Lạy giời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy đầy bát cơm
Lấy rơm đun bếp…
Đấy, mơ ước muôn đời của người dân đơn giản có thế. Họ chỉ cần nước uống, ruộng cày, bát cơm đầy… Vậy mà cái khao khát tối thiểu ấy, trước đây đâu cũng đã có được? Người nông dân làm ra hạt gạo mà quanh năm đói. “Đói ngày giỗ cha, no ba hôm Tết”.
Chỉ ngày Tết mới được ăn no, mới có bát cơm trắng, còn quanh năm ăn độn. Một hạt cơm cõng đến mấy lát sắn, lát khoai. Mà khoai sắn cũng chẳng có. Nhiều nhà còn lấy gốc rau muống già băm nhỏ, phơi khô, nấu trộn với cơm.
Nhai miếng cơm như nhai chão rách. Bây giờ thì chẳng cần phải “lạy ông Giời” cũng có “bát cơm đầy” rồi. Dù đất nước còn rất nhiều khó khăn. Suy thoái kinh tế. Nạn tham nhũng hoành hành.
Đạo đức xã hội xuống cấp. Những nguy cơ rình rập ngoài Biển Đông. Rồi còn bao nhiêu bất trắc trong đời sống thường ngày. Nhưng về hạt gạo, về miếng ăn, lạy Giời, chúng ta cũng đã qua cơn bĩ cực, đã nghĩ đến việc ăn ngon và mặc đẹp. Chúng ta không chỉ đủ gạo ăn mà còn bán gạo ra thế giới. Là nước xuất khẩu gạo lớn nhất. Thế là sướng!
Mà sướng thật! Tôi là cậu bé nhà quê, lớn lên cũng ở làng quê. Nhà tôi mấy đời làm ruộng. Ông bà xưa nói: "Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề..”. Trông gì? “Trông trời, trông đất, trông mây. Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm...". Trông tất cả, chỉ không dám trông vào bản thân mình! Vì mình chả là cái gì cả. Nghề trồng lúa là nghề phụ thuộc thiên nhiên, thời tiết. Mà thiên nhiên, thời tiết lại đầy bất trắc. Mưa nắng đều dữ tợn. Bởi thế mà trong hạt gạo có cả “bão tháng Bảy” và “mưa tháng Ba”.
Tháng Bảy thường có những trận bão lớn với sức tàn phá rất mạnh. Tháng Ba bắt đầu xuất hiện những trận mưa đầu mùa nên rất độc. Những trận mưa, bão này thường tác động đến số phận của người nông dân. Cũng có khi lúa đã chín vàng đồng, tưởng bội thu rồi, thế mà chỉ sau một đêm mưa lớn, cả vựa lúa chìm dưới nước trắng. Sau hai ngày không cứu kịp, thóc nảy mầm và thối ủng trong nước.
Rùng mình với cái đói
Tôi đã nhiều lần nhìn thấy bố mẹ tôi, cùng rất nhiều bà con cô bác nông dân khóc ròng trên cánh đồng mồ hôi nước mắt của mình. Bát cơm đã đưa lên miệng, Ông Giời lại hất đi. Bởi thế, người nông dân làm ra hạt gạo mà quanh năm đói.
Cái đói thường trực đã bao nhiêu đời. Không phải chỉ trước và trong năm 1945, chúng ta có đến hai triệu người chết đói, mà sau này, cái đói vẫn tiếp tục hành hạ. Trong cuốn hồi ức “Đối thoại văn chương”, nhà thơ Trần Nhuận Minh đã dành không ít trang kể về những năm đói ở làng quê tôi. Năm 1959 có chuyện “cải tiến kĩ thuật” học của một nước láng giềng “môi hở răng lạnh”.
Cấy lúa 5 x 5, rồi cho lợn ăn phân trâu. Lợn chảy bụng lõng bõng như cái túi lủng lẳng, mắt toét nhoèn. Phân lợn cũng không có tác dụng để bón cho lúa. Rồi trồng khoai ụ, chẻ tre đan những cái sọt to như cái bồ, có bao nhiêu phân và đất màu mỡ thì hót lên, đổ vào cái bồ đó, làm thành từng ụ, cao ngang đầu người, dây khoai lang đặt vào xung quanh… Cuối cùng, khoai chết, ụ đất thành một cái lô cốt rắn như đá, phải dùng xà beng mới bẩy ra được, mà ruộng thì bạc hết màu.
Làng tôi đã có không ít người chết đói vào năm đó. Ông Luận, nhà liền nhà tôi, bó người chết trong cái chiếu đem chôn, mồm người chết cứ mở to ra như mồm con cá ngão. Không ai khép miệng người chết đói vào được.
Sở dĩ có người chết đói vì không ai báo cáo lên cấp trên là hợp tác xã có người đói để cứu đói. Và khi chết đều chết vì tả. Nên có báo cáo thì cũng chỉ báo cáo là chết bệnh, không phải chết đói. Đói quá cái gì cũng ăn. Lá sắn, lá sung, đều đem luộc, ăn được tất. Làng cứ nháo nhác lên. Lúc ấy, mới thấy giá trị của cây đu đủ, ăn hết quả rồi ăn thân cây, bỏ cái vỏ ngoài và cạo sạch lòng trắng bên trong, luộc đổ nước đầu đi, rồi nấu lên ăn, ăn lá, rồi ăn cả rễ.
Lần đầu ăn nôn nao như say, sau chỉ cồn ruột thôi, nhưng chịu được. Vì gặp cái gì cũng ăn, lại uống nước lã, nên cả làng đi tả, tức là chết vì bệnh tả, chứ không phải vì đói. Nhưng thực ra là chết đói…
Vì chết do tả, nên người ta chôn vội chôn vàng, sợ lây nhiễm. Có một trường hợp rất đau lòng, khi cải cát (cải táng), mở quan tài của một bà, là mẹ cô em họ tôi, thấy con dao thường bổ cau (bà ăn trầu), rất sắc nhọn, buộc cái quai vào dải rút quần, cắm chặt vào mép tấm ván thiên ngang ngực người chết. Quan tài lúc ấy, đóng vội bằng gỗ tạp, nên gỗ rất mềm. Mọi người bật khóc, vì nghĩ rằng, sau khi chôn, bà đã sống lại và bằng cách đó, bà đã báo cho con cháu biết…
Cái đói không chỉ hoành hành ở làng quê tôi. Nhiều vùng khác cũng vậy. Người dân không phải chỉ ăn lá sắn, mà còn ăn cả…đất. Thật rùng rợn. Cụ Ngô Tất Tố, trong phóng sự đặc sắc “Việc làng”, có viết về một ông già ở quê, vào những năm đói kém, đã chế món ăn bằng... đất sét. Cụ xoay thành bao món cho lạ miệng, toàn những sơn hào hải vị cả, nhưng nguyên liệu chính cũng vẫn là... đất! Ăn mãi cũng không no, mà chỉ thấy nặng bụng.
Đây là một chi tiết không thể bịa được. Con người ta đói, khi đã đến bước khốn cùng, phải ăn đến cả đất nữa thì khiếp quá!
Muôn đời cùng nhìn vào hạt gạo
Mấy năm vừa rồi, lũ lụt liên miên ở miền Trung, rồi miền Nam, mà ông Giời cũng đâu có chiều người. Bằng cớ là không phải chỉ có bão tháng Bảy, mà đến cả tháng Mười vẫn còn có bão. Cơn bão 13 chưa tan. Cơn bão 14 đã ập đến... Có năm, cả vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long coi như mất trắng.
Người dân ngoài Bắc phải nhường cơm sẻ áo cho bà con mình ở trong kia, vậy mà bát cơm cũng có vơi đi đâu? Giá gạo ngoài chợ cũng không có gì thay đổi lớn. Bây giờ, chúng ta đã xuất khẩu gạo lớn thứ nhất thế giới. Đấy là một là niềm vui tuyệt vời, cho thấy cái đói không còn đe doạ nữa.
Thế nhưng, trong lúc lật mình vươn dậy, chúng ta vẫn phải trông vào hạt gạo. Nói đến Việt Nam, vẫn là nói đến lúa gạo. Và có thể cả sau này nữa, cho dù chúng ta có bay giữa trăng sao thì cũng vẫn cứ phải sống bằng hạt gạo. Ngày ngày, hạt vàng, hạt ngọc của những người nông dân chân lấm tay bùn, một nắng hai sương vẫn lặng thầm nuôi tất cả chúng ta.
|
|
|
Xuất khẩu gạo của Việt Nam đứng hàng đầu thế giới. Ảnh: Chí Cường |
Muốn đất nước giàu, không thể chỉ trông vào hạt gạo, mà phải có tài nguyên, khoáng sản. Và khoáng sản đắt giá nhất vẫn là trí tuệ. Chừng nào Việt Nam xuất khẩu được trí tuệ thì khi ấy, chúng ta mới thật sự “cất cánh”. Bởi một sản phẩm công nghệ, chỉ mong manh vài lạng, nhưng lại “nặng” hơn cả chục tấn lúa gạo của nông dân.
Còn để đất nước có thể giàu được bằng gạo, có lẽ chúng ta cũng phải đầu tư trí tuệ cho gạo, biến Hạt gạo Việt Nam thành Hạt gạo Trí tuệ, Hạt gạo Thông minh. Ví dụ ăn gạo Việt Nam sẽ không còn bị mỡ máu, không bị béo phì, là những căn bệnh mà cả thế giới đều hoảng sợ chẳng hạn.
Nếu có được hạt gạo như thế, chúng ta mới thực sự thoát khỏi đói nghèo. Và hạt gạo Việt Nam sẽ đắt hơn bất cứ sản phẩm công nghệ nào. Trong công cuộc cách mạng khoa học hiện nay, niềm mơ ước đó không còn viển vông nữa.
|
Xuất khẩu mồ hôi, nước mắt
“Xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, nghĩa là chúng ta xuất khẩu mồ hôi nước mắt lớn nhất thế giới, không có nghĩa chúng ta đã giàu nhất thế giới. Thực tế, Việt Nam vẫn là một nước nghèo, lại còn cõng thêm những “món” nợ công, mà không biết đến đời nào chúng ta mới trả được hết”.
Nhà thơ Trần Đăng Khoa |
Nhà thơ Trần Đăng Khoa