Thợ đá Non Nước

GiadinhNet - Nằm cách trung tâm TP Đà Nẵng hơn 7 km về hướng Đông Nam, Ngũ Hành Sơn như "hòn non bộ khổng lồ" giữa lòng thành phố.

Ngũ Hành Sơn còn có tên gọi rất dân dã là núi Non Nước. Vùng sơn thủy hữu tình đã in sâu mấy trăm năm trong tâm tưởng người Quảng Nam. Non Nước là một thắng cảnh đẹp của cảnh sắc thiên nhiên. Cái đẹp của cửa thiền. Cái đẹp hoài niệm.
 
Từ những phiến đá vô cảm, được gọt giũa bằng bàn tay khéo léo, những nghệ nhân thổi hồn của mình vào đá, đã đánh thức giấc ngủ hàng ngàn năm của thiên nhiên...
 

Anh Phan Thanh Vinh miệt mài bên một tác phẩm.


Từ thuở khai sơn

Ngày trước, làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước do người thợ xứ Thanh, xứ Nghệ đi đến lập ấp tạo dựng. Lúc bấy giờ sản phẩm chủ yếu phục vụ đời sống gồm như những hòn chì đá dùng để buộc neo tàu thuyền, các loại cối giã gạo, xay bột. Tiếp theo là những sản phẩm điêu khắc bia mộ, đặc biệt là những chế tác rồng, phượng, rùa, nghê phục vụ việc trang trí tại các chùa chiền, miếu mạo... Cả làng lúc bấy giờ chỉ có khoảng 5-6 gia đình làm nghề.
 
Chúng tôi đến thăm cơ sở chế tác đá Nguyễn Hùng, một cơ sở chế tác đá lớn tại Non Nước, dưới chân núi Thủy Sơn. Bên cạnh vườn tượng lộng lẫy với những bức tượng Phật, tượng thiếu nữ, tượng động vật còn có cả những bức tượng mang phong cách Chăm độc đáo.
 
Anh Phan Thanh Vinh, một thợ đá lâu năm ở cơ sở này cho biết: "Làng đá này cũng qua nhiều thăng trầm, có những lúc tưởng không trụ lại được. Nhưng nhờ có những người còn yêu nghề, còn chịu cực nhọc với đá nên mới có ngày hôm nay."

Len lỏi trong những con hẻm nhỏ, đâu đâu cũng thấy tiếng cưa, tiếng cắt, tiếng mài, tiếng đục đẽo đá vang lên rộn rã.
 

Để hoàn thiện được những tác phẩm như thế này, các nghệ nhân phải đầu tư rất nhiều công sức, tâm huyết. Ảnh: TG


Bàn tay tài hoa

Mới đây, thành phố Đà Nẵng đã quyết định quy hoạch lại làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước với quy mô đầu tư lên đến 35,4ha, hơn 650 hộ dân nơi đây phải di dời để sắp xếp lại làng nghề. Sau khi quy hoạch, sẽ có từng phân khu chức năng của quy trình sản xuất sản phẩm đá, mang tính liên hoàn, khép kín như phân khu chế tác, đánh bóng sản phẩm, khu phố chuyên giới thiệu sản phẩm...


Ðá ở đây là loại cẩm thạch nhiều mầu sắc như trắng sữa, hồng phấn, sáng đục, xám vân đỏ, nâu đen, xanh đậm, mang vẻ đẹp bền bỉ trước thời gian.

Để có một sản phẩm nghệ thuật ra đời đúng ý, nghệ nhân phải biết chọn đá phù hợp với sản phẩm, đồng thời cũng dựa trên nét đẹp hình khối vốn có của đá. Sản phẩm không cái nào giống cái nào. Những người thợ phải đi khai thác đá từ những vách núi cheo leo hiểm trở, rồi chuyên chở về, xẻ thành những khối đá nhỏ hơn tùy vào tác phẩm định chế tác.
 
Khi có được những khối đá như ý, họ bắt đầu đục đẽo, tạo hình những đường nét trên phiến đá ấy. Để có được những sản phẩm như thế, họ chỉ dùng những chiếc búa, chiếc đục rất thô sơ, sau đó mới đến giai đoạn hoàn thiện tác phẩm. Giai đoạn này nhanh hay chậm tùy thuộc vào tác phẩm có nhiều chi tiết hay không và vào tay nghề của người thợ.

Công đoạn cuối cùng là đánh bóng sản phẩm bằng những miếng giấy nháp. Việc đó phải làm hoàn toàn bằng tay.

Anh Trần Văn Bình, một người thợ đá tâm sự: "Cái tâm và cái tài của nghệ nhân điêu khắc đá đều thể hiện rõ trên chân dung của mỗi bức tượng mà họ làm ra. Mỗi khi tạc chân dung của tượng, người nghệ nhân phải giữ cái Tâm của mình thật tĩnh, mới mong tạo ra được những chân dung có hồn và động. Đây đã là điều luật bất thành văn mà những nghệ nhân đều phải biết, nhưng cũng không mấy ai thật sự làm được".
 
Cổng Tam quan dưới chân Thủy Sơn - một công trình nghệ thuật
 ấn tượng. Ảnh: TG

Trước đây công việc khá vất vả, từ công đoạn tạc hình đến một sản phẩm hoàn chỉnh đều làm thủ công. Gần đây, thợ đá có thể dùng máy mài, đánh bóng hỗ trợ. Để tạo nên một sản phẩm hoàn hảo, các nghệ nhân phải mất một thời gian dài thiết kế mẫu, làm thử, đem ra ngoài trời để thử độ bền sau đó mới bắt đầu sản xuất. Mỗi một sản phẩm từ khi bắt tay vào đẽo, gọt đến khi hoàn thành phải mất từ năm đến bảy ngày, thậm chí cả tháng trời. Lúc đầu kỹ thuật chế tác đá Non Nước chỉ được đào tạo theo kiểu truyền nghề và chủ yếu dựa theo kinh nghiệm và trí nhớ.Về sau này, nhiều nghệ nhân đã mở các lớp đào tạo tại chỗ; Nhiều người đã cho con cái theo học các trường đại học mỹ thuật để công việc thuận lợi hơn.
 

Bào đá- một trong những công đoạn quan trọng. Ảnh: TG


Sau khi thành phố Đà Nẵng có chủ trương cấm khai thác đá để bảo vệ quần thể danh thắng Ngũ Hành Sơn, người dân làng đá Non Nước đi tìm mua  đá tự nhiên từ Thanh Hóa, Nghệ An... mang về để duy trì làng nghề truyền thống. Hiện nay, tại đây có hơn 650 hộ làm nghề sản xuất và buôn bán đồ mỹ nghệ bằng đá. Các nghệ nhân ở đây vẫn miệt mài  truyền nghề và lòng đam mê cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên để làng nghề  phát triển hơn nữa rất cần sự phối hợp của chính quyền có hướng đầu tư đào tạo quy mô, bài bản hơn để nghề điêu khắc của làng hòa nhập và không lạc lõng với nghề điêu khắc trong nước và thế giới..
 

“Cõi thiên thai” nơi trần thế

Dường như ai từng biết đến Đà Nẵng là biết đến Ngũ Hành Sơn. Nó nổi tiếng đến độ nhiều người muốn xem nó như là biểu tượng của vùng đất này.

Không gian huyền ảo, thơ mộng, chùa chiền và hang động, cây cỏ và tiếng chuông chùa, sóng vỗ và những dằng dặc nghìn trùng... cách không xa trung tâm thành phố, Ngũ Hành Sơn từ lâu đã thật sự là một "cõi thiên thai" dành cho du khách.

Gần 200 năm trước, vua Minh Mạng đã từng đến đây. Ông đã tự mình đặt tên cho núi, cho các hang động, chùa chiền. Không ai biết những cái tên như Ngũ Hành Sơn, Huyền Không, Hóa Nghiêm, Lăng Hư, Tàng Chân, Vân Nguyệt, Thiên Long... đã làm nhà vua phải suy nghĩ mất hết biết bao nhiêu thời gian. Nhưng có một điều chắc chắn rằng, giữa những lo toan quốc kế dân sinh, trong tâm hồn của con người này, cảnh trí Ngũ Hành Sơn đã chiếm một phần quan trọng như một nỗi tự hào về một miền đất xinh đẹp.

Nơi đây, các dấu ấn văn hoá lịch sử còn in đậm trên mỗi công trình chùa, tháp đầu thế kỷ XIX, trên mỗi tác phẩm điêu khắc Chăm của thế kỷ XIV, XV. Những bút tích thi ca thời Lê, Trần còn in dấu trên các vách đá rêu phong trong các hang động. Những di tích văn hoá lịch sử như mộ mẹ tướng quân Trần Quang Diệu, đền thờ công chúa Ngọc Lan (em gái vua Minh Mạng), bút tích sắc phong quốc tự còn lưu giữ tại chùa Tam Thai của triều Nguyễn, đến các di tích lịch sử đấu tranh cách mạng như Địa đạo núi đá Chồng, hang Bà Tho, núi Kim Sơn, hang Âm Phủ,... Tất cả chứng minh hùng hồn về một Ngũ Hành Sơn huyền thoại, về một vùng đất địa linh nhân kiệt đầy chất sử thi.

Cũng như nhiều địa danh khác, những ngọn núi này bao bọc quanh mình nó rất nhiều những huyền thoại khác nhau. Không gian thơ mộng của cảnh trí và vẻ bãng lãng cổ tích của những câu chuyện cổ đã mang lại cho Ngũ Hành Sơn cái ý vị mà ít nơi nào có được. Trong tư duy triết học của phương Đông, Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là những yếu tố cấu thành vũ trụ. Con số 5 là con số cực kỳ quan trọng trong tư duy và trong đời sống phương Đông. Nhìn như thế, trong sự trùng hợp ngẫu nhiên, 5 ngọn Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Hỏa Sơn, Thổ Sơn tự trong mình nó đã hàm chứa những vẻ kỳ bí dị thường.

Cũng tại nơi đây, các hang động, cảnh quan tự nhiên và hệ thống chùa chiền vừa ngẫu nhiên, vừa có ý thức đã tạo ra một vẻ đẹp hài hòa, có cái quyến rũ, mời mọc nhưng cũng có những ý tứ, kín đáo, che giấu niềm cảm xúc bất ngờ trong suốt cuộc hành trình tham quan của du khách.
 
P.V
 
Bùi Hữu Cường
baocuoituan