Tự ý chia tang vật vụ án, điều tra viên vẫn vô can

GiadinhNet - Ngày 1/8/2014, TAND Tối cao đã mở phiên phúc thẩm xét xử bị cáo Mai Thị Chung (SN 1975, trú tại thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa) về các tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Bất chấp những mâu thuẫn chưa được làm sáng tỏ, HĐXX vẫn tuyên phạt bị cáo Chung 29 năm tù giam. Phán quyết của tòa đã đi ngược lại quan điểm của Viện trưởng VKSND Tối cao và Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao về vụ án này.

Tự ý chia tang vật vụ án, điều tra viên vẫn vô can 1

Bị cáo Chung trao đổi với luật sư trong thời gian HĐXX nghị án. ảnh: B.M

 
Cứ làm hộ chiếu là…bỏ trốn?

Theo cáo trạng, tính đến thời điểm đầu tháng 5/2007, bị cáo Chung còn nợ khoảng 2,1 tỷ đồng của 7 người và tiền hàng của Công ty Xi măng Bỉm Sơn. Chung đã sử dụng số tiền trên để đánh bạc, chơi lô đề nên mất khả năng trả nợ. Trong khi đang nợ rất nhiều người, Chung đã làm hộ chiếu nhằm mục đích định bỏ trốn. Từ những căn cứ trên, các cơ quan tiến hành tố tụng quy kết Chung có hành vi“Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Để cáo buộc Chung chơi lô đề, HĐXX phiên phúc thẩm đã đưa ra một cuốn sổ ghi chép và cho rằng nội dung cuốn sổ này đã ghi tỉ mỉ quá trình bị cáo đánh đề. Ngay lập tức, cáo buộc này đã bị Chung phủ nhận và cho rằng, điều tra viên ép nhận chơi lô đề. Chung cho rằng, đây là cuốn sổ theo dõi thu, chi của gia đình, bị cáo cũng không biết tại sao có thêm nội dung ghi lại quá trình đánh lô đề. Chung đề nghị được xem cuốn sổ để xác định chữ viết có đúng là của mình hay không?  Tuy nhiên, đề nghị này đã không được HĐXX chấp nhận.

Tòa khẳng định, ngày 11/5/2007 Chung làm hộ chiếu để bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tiền vay của các bị hại và tiền mua xi măng của Công ty Xi măng Bỉm Sơn. Tuy nhiên, Chung lại khẳng định mình không hề làm tờ khai xin cấp hộ chiếu tại Công an tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo đề nghị cho giám định chữ viết trong tờ khai này xem có phải của bị cáo hay không. Một lần nữa đề nghị của Chung bị tòa bác bỏ.

Ngay tại phiên tòa, Kiểm sát viên (KSV) phát hiện Chứng minh thư (CMT) của Chung khai để cấp hộ chiếu được Công an tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 11/5/2007 (trùng với ngày làm tờ khai- PV). Từ chi tiết này, luật sư Dương Kim Sơn (bảo vệ cho bị cáo Chung) đặt nghi vấn: “CMT cũ của Chung chưa hết hạn vậy tại sao lại xuất hiện CMT mới cấp ngày 11/5/2007? Vô lý hơn, CMT được Giám đốc Công an tỉnh ký cấp ngày 11/5 thì cùng ngày hôm đó, Chung không thể có trong tay CMT này để đi làm tờ khai cấp hộ chiếu được. Phải chăng có một ai đó đã làm nhằm đổ tội cho bị cáo?”.

Tuy nhiên, HĐXX phúc thẩm lại cho rằng: “Dù ai làm tờ khai thì việc cấp hộ chiếu này vẫn là cấp cho Chung nhằm mục đích giúp bị cáo bỏ trốn”. Trước quy kết này, luật sư Dương Kim Sơn ngao ngán: “Chủ doanh nghiệp làm hộ chiếu đi ra nước ngoài là chuyện bình thường. Nếu cứ nợ vài tỷ vào thời điểm đi làm hộ chiếu mà bị quy kết là “chiếm đoạt tài sản” thì loạn mất”.
 
Nhiều điểm chưa rõ vẫn tuyên án

Cũng cần nói thêm rằng, trước đó, Viện trưởng VKSND Tối cao và Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã từng nhận định: “Lời khai của Chung về mục đích cấp hộ chiếu còn mâu thuẫn và chưa được làm rõ. Trong và trước khi bị bắt, bị cáo vẫn có mặt tại nơi cư trú và không có biểu hiện bỏ trốn. Bên cạnh đó, Chung chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp hộ chiếu, chưa làm các thủ tục liên quan đến việc xuất cảnh, nhập cảnh và không bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Các cơ quan tiến hành tố tụng kết luận Chung có hành vi làm hộ chiếu định trốn ra nước ngoài trốn nợ để kết luận Chung phạm tội là không có căn cứ và không đúng quy định”.

Liên quan đến các khoản nợ của 7 bị hại, Chung cho rằng đó là những khoản vay dân sự đã được thanh toán đầy đủ. Theo đó, khoản nợ 400 triệu đồng của chị Trịnh Thị Thanh, bị cáo khẳng định mình viết giấy nợ này là “khống” bởi do phải mượn “sổ đỏ” của chị này để đi vay ngân hàng chứ không vay tiền thật. Hiện tại, “sổ đỏ” đã được trả và bị cáo không còn nợ chị Thanh số tiền trên.

Đối với khoản tiền 300 triệu đồng thể hiện trong “Giấy vay tiền” của chị Huệ, Chung khai: “Bị cáo viết giấy là do cầm hộ chị Huệ 300 triệu đồng để đưa cho chị Oanh ở ngân hàng”. Lời khai này được chứng minh qua “Giấy biên nhận ngày 28/2/2007” và chính lời khai của bà Huệ rằng: “Chị Oanh gọi điện đến vay 300 triệu đồng và nhờ Chung đến để lấy hộ”. Tuy nhiên, Chung vẫn bị tòa kết tội “chiếm đoạt” số tiền trên và bị tuyên buộc phải trả tiền cho chị Huệ khoản 300 triệu đồng “cầm hộ” này.

Theo luật sư Dương Kim Sơn, trong vụ án này có dấu hiệu của việc “làm sai lệch hồ sơ vụ án”. Hồ sơ vụ án thể hiện từ 15 - 16h30 ngày 12/5/2007, tại Công an thị xã Bỉm Sơn, điều tra viên Nguyễn Văn Xiêm và Doãn Văn Ngọc tiến hành lập biên bản đối soát số lượng hàng và tiền mua bán xi măng, phiếu và số tiền hàng thanh toán giữa bà Ngoát và Chung. Tuy nhiên, cũng trong khoảng thời gian này thì tại Bút lục 27 lại thể hiện điều tra viên Xiêm tiến hành lập biên bản giao- nhận quyết định khởi tố bị can đối với Chung. Sau đó thì điều tra viên này đích thân lấy lời khai bị can Chung.

Như vậy, cùng một thời điểm, điều tra viên Xiêm và Chung thực hiện đồng thời rất nhiều công việc (hỏi cung, đối soát và tiến hành lập biên bản bàn giao quyết định khởi tố) là hết sức vô lý. Ngoài ra, tòa cũng “im lặng” trước việc một số cán bộ điều tra Công an thị xã Bỉm Sơn tự ý chia số tiền 100 triệu đồng thu của anh Mai Huy Thái (em bị cáo Chung) cho các chủ nợ của Chung. Điều đáng nói, số tiền 100 triệu đồng bị chia này thì có đến hơn 50 triệu đồng không liên quan đến vụ án. Chính đại diện VKSND Tối cao đã phải thừa nhận: “Trong vụ án này có nhiều điều phải rút kinh nghiệm”. Vậy nhưng, bất chấp nhiều mâu thuẫn chưa được làm rõ, tòa vẫn tuyên phạt Chung 29 năm tù giam về các tội danh trên.
 
Bình Minh
baoin