Xuân vui bếp lửa biên phòng

GiadinhNet - Ở Đồn Biên phòng, bếp lửa gần như toả ấm quanh năm. Bếp lửa là nơi sum vầy đầm ấm nhất.

Xuân vui bếp lửa biên phòng 1
Bộ đội biên phòng quây quần với đồng bào bên bếp lửa nhà sàn. Ảnh: TL

Nơi người lính ngồi đọc báo, đọc thư nhà. Nơi thay nắng trời hong khô quần áo, giày tất để kịp chuyến tuần tra. Quanh bếp lửa ấm là nơi người lính ngồi ôm vai nhau nhấp ngụm nước chè rừng nóng hãm trong ca và tâm tình với nhau sau một ngày lặn lội trong mưa rét ở các nẻo rừng.

Bên bếp lửa cũng là nơi những buổi sinh hoạt văn nghệ ấm tình đồng đội, hát những làn điệu dân ca, đọc những vần thơ mới sáng tác trong chuyến tuần tra, phiên gác cho nhau nghe. Chiến sĩ Bá - cây văn nghệ của đồn đêm Giao thừa, bên bếp lửa ấm mở đầu bằng những câu thơ: “Tết vui vui bản, vui rừng/ Chuyến tuần “ xông núi” không dừng bước chân/ Ta còn đi thức mùa xuân/ Thức chim về hót, thức rừng nở hoa”.

Đôi má anh đỏ bừng. Bá sinh ra ở nơi mà anh tự hào là “vùng rốn” của dân ca Ví dặm. Bá thường kể chuyện gia phả dòng họ nhà anh truyền lại rằng, ngày xưa cụ Nguyễn Du từ đất Tiên Điền vượt Ngàn Hống qua sông Cài do cụ tổ nhà anh chèo đò để đến Trường Lưu hát ví, hát đối, hát ghẹo... với các O (cô) gái phường Vải.

Nay cả làng anh ai cũng biết hát. Khi làm ngoài đồng, lúc nói chuyện với nhau ở nhà, bà con cũng nói có vần, có vè, cũng bẻ thành câu ví, câu dặm. Bá biết hát nhiều làn điệu: hát dạo, hát mời, hát đố, hát ví đò đưa, ví trèo non... Bá có giọng hát ấm, làn điệu nào nghe cũng thiết tha, trầm lắng. Nay Bá làm đẹp thêm những làn điệu dân ca quê nhà với những lời hát ví, hát dặm mang hơi thở của người lính biên phòng. Lúc đi tuần tra, Bá có câu hát ví “Lạc rừng thì nhìn cửa tổ mối, tổ chim. Suối giữa rừng lim thì đừng uống nước”. Trong đêm liên hoan văn nghệ ở đồn, Bá hát ví trèo non “ Xuống dốc ta đi ngang bàn chân/ Lên đèo phải khom lưng cao gối/ Lội suối ta tránh hòn đá rêu xanh/ Nghe con chim kêu hoảng hốt là rừng không lành ta phải để tâm”. Những câu hát ví của Bá, đồng đội chuyền nhau như lời dặn dò, nhắc nhở: “Vắt xanh bám vào cổ, sên đất luồn vào giày/ Nước bọt xoa vào tay, giật ra ngay tức khắc”; “ Nước suối đục đầu dòng, không thú rừng vừa lội xong, thì có kẻ gian đang ẩn nấp”.

Đêm nay ngồi quanh bếp lửa ấm, cánh lính trẻ ôm vai nhau cười vui với câu hát dặm của Bá: “Nằm trên đệm lá rừng/ Nghe rúc rích dưới lưng/ Không con trăn thì con rắn/ Ta cứ ngủ yên lặng/ Nó chẳng nỡ hại ta/ Đến rạng sáng mai ra/ Nó bò đi đàng nó...”. Bá có nét trầm tư và cái nhìn bề ngoài cứ tưởng là anh lơ mơ. Nhưng kỳ thực Bá phát hiện các chi tiết văn hoá rất tinh tế và anh tổng kết nó thành kinh nghiệm bằng những câu hát ví, hát dặm, hát trèo non... dễ nhớ để lưu truyền với cuộc sống của người lính biên phòng đến các thế hệ mai sau.

Lúc này đôi mắt Bá lơ mơ nhìn ngọn lửa bập bùng. Đồng đội nhấm nháy nhau vì biết lúc Bá có cử chỉ như thế là anh sắp có bài ví mới. Bá cất giọng. Anh hát ví về “ kỳ tích” trong một chuyến tuần tra, các chiến sĩ đã đuổi con hổ vằn cứu con hoẵng thoát chết. Giờ đây sáng nào từ thảm cỏ bên suối nó cũng hướng về phía đồn biên phòng gọi “tác, tác”. Anh em cười và nói với nhau: “Nó cảm ơn và chào buổi sáng chúng mình đấy”. “ Con thú rong chơi trong núi vắng/ Con chim hót giữa đỉnh rừng vàng/ Lính biên phòng với chúng cùng bản làng với nhau/ Chúng cùng ta giữ đất rừng sâu...”. Tiếng vỗ tay reo vui. Ngọn lửa đêm xuân bập bùng, ấm áp. Chiến sĩ Kim Đào quê ở Tiên Điền, đất “ Quan Thuý Kiều” từ xa xưa người ở Nghi Xuân - Hà Tĩnh gọi Tiên Điền - làng Cụ Nguyễn Du như thế. Đào có giọng hát, giọng ngâm thơ ấm và hay nhất đồn, vừa bàn giao phiên gác Giao thừa đã vào đêm vui với đồng đội bên bếp lửa. Đào ngâm bài thơ vừa sáng tác: “ Cuối năm em tắm bến sông/ Nhớ ra sơm sớm đón bông lan rừng/ Đầu non anh đứng trông chừng/ Trông mưa nhanh hạt, nước đừng chậm trôi...”.

Đào ngừng một tý, anh xoay người vào bếp lửa để hong khô lưng áo bị sương lạnh thấm ướt, anh nhìn đồng đội tận hưởng sự ngợi khen rồi ngâm tiếp: “ Em là hương nước chè xanh/ Em là hương mít chín cành ngọt thơm/ Gió xuân đưa áng mây lên/ Hương thơm ngan ngát trời đêm Biên phòng...”. Các chiến sĩ reo vui, hút gió xuân lùa vào, hoa lửa từ bếp bùng bay lên sáng rực...

Trong đêm vui xuân bên bếp lửa còn có chiến sĩ Trãi là cây hài hước cùng quê “lò ví dặm” với Bá. Trãi cùng với Bá “ trình diễn” tiết mục tấu hài nói về chiến công của đội tuần tra. Nội dung bài tấu kể lại một toán buôn lậu ma tuý lợi dụng đêm cuối năm xuyên rừng xâm nhập qua biên giới. Chúng dựng lán lập hang ổ trong một hẻm núi vắng. Đội trưởng Trí nhận lệnh chỉ huy các chiến sĩ tiến vào tiêu diệt. Chiến sĩ Tiêu bò vào trước, anh vô hiệu hoá những quả mìn chúng gài, mở đường cho các mũi tiến công. Trí nằm dán mình xuống đất núi. Bỗng một tên tội phạm tiến lại gần anh. Nó nhớn nhác nhìn ra xung quanh rồi cúi xuống nhặt từng nụ nấm xuân ở thân cây gỗ mục. Một con rắn cạp nong từ phía ngoài bò vào.
 
Nó to bằng cổ tay, dài gần hai mét. Những khoang đỏ lừ, vàng ruộm, hiện trên vảy đen bóng nhẫy. Cái lưỡi nó thập thò nhọn hoắt, đôi mắt tròn đen láy. Con rắn lẹ làng trườn trên lớp lá ẩm rồi bò ngang qua lưng anh đội trưởng. Anh biết rắn là loài không biết nghe, không biết ngửi nên nó mới có hai tia nhọn ở lưỡi thập thò thay thế. Anh gồng mình lên, cắn răng lại, nín thở. Bỗng con rắn giật nảy mình, nó quằn lại mấy khúc. Nó đã nhận thấy hơi ấm dưới bụng nó. Nó lao sang phía bên kia cây gỗ mục, nơi tên tội phạm đang với tay hái nấm. Tên tội phạm kinh hoàng rú lên bỏ chạy, xéo lên mình con rắn. Con cạp nong đớp ngay vào cổ chân nó. Cả bọn tội phạm trong lán chạy ra xúm lại cứu tên bị rắn cắn.
 
Thời cơ “vàng” đến. Đội trưởng phát lệnh xung phong. Cả bọn tội phạm buôn ma tuý đứng như gỗ mục... Con rắn cạp nong lại cần mẫn bò đi tìm mồi. Cái khoang màu vàng ở cổ nó bóng mượt, rung động trông hệt như nó đang đeo chiếc vòng vàng. Nó ngóc cao đầu nhìn các chiến sĩ biên phòng rồi gật gật mấy cái như “Năm mới, chào nhé! Chào tạm biệt nhé!”. Trong tiết mục tấu hài bên bếp lửa đêm xuân của Bá và Trãi kết bằng bốn câu thơ rất vui: “Cảm ơn con rắn cạp nong/ Giúp anh chiến sĩ biên phòng lập công/ Chim muông cây đá muôn trùng/ Cùng ta canh giữ yên vùng biên cương”.
 
Nhà văn Trần Hữu Tòng
baoin