Cẩn thận khi dùng nhân sâm
Nhân sâm không còn là loại dược thảo hiếm. Chúng được bán rộng rãi trên thị trường và được quảng cáo như là thần dược
Giúp cơ thể thích nghi với các điều kiện bất lợi của môi trường, kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng, chống stress…
Thông thường, người ta dùng một lát nhân sâm 1 – 1,5g, tẩm ít nước cốt gừng tươi, cho vào miệng ngậm, nhấm từng ít một, nuốt nước và ăn luôn cả bã.
Nếu chưng cách thuỷ thì cho các lát sâm mỏng vào chén sứ, thêm ít nước cùng với 1 – 2 lát gừng tươi, đậy nắp kín. Đun cách thuỷ, lấy nước uống, sau đó làm nhiều lần đến khi sâm hết mùi vị mới thôi.
Tuy nhiên, lưu ý không dùng nhân sâm cho các trường hợp sau:
- Người bị cao huyết áp (can dương vượng), đàn ông bị di tinh, xuất tinh sớm, âm hư hoả vượng.
- Một số bệnh nhân bị tự miễn (ban đỏ, mụn nhọt, viêm đa khớp, da cứng…).
- Người không bị suy nhược cơ thể, nếu dùng nhân sâm ngâm rượu với nồng độ 3% với liều 100 – 200ml/ngày có thể bị các tác dụng phụ như nhức đầu, chóng mặt, tay chân run rẩy, đi lại khó khăn, mất ngủ, hạ đường huyết, hạ huyết áp.
|
Vị thuốc nhân sâm (Radix Ginseng) là thân rễ của cây nhân sâm (Panax ginseng C.A.Mey). Rễ cây này có dạng giống hình người nên gọi là nhân sâm. Tên Panax xuất xứ từ chữ Panacea, tiếng Hy Lạp, có nghĩa là chữa được tất cả mọi bệnh. Chữ Ginseng là phiên âm chữ nhân sâm của Trung Quốc. Nhân sâm có nhiều loại như nhân sâm Cao Ly (Triều Tiên), nhân sâm Trung Quốc (Trường Bạch, Cát Lâm, Liêu Ninh), nhân sâm Nga, nhân sâm Nhật Bản. Ngày nay, còn có nhân sâm Mỹ (Panax quinquefolium L.), nhân sâm Việt Nam, tức sâm Ngọc Linh (Panax). Theo Đông y, nhân sâm có vị ngọt (cam), tác dụng đại bổ nguyên khí, bổ ngũ tạng, ích huyết, sinh tân dịch, định thần, ích trí, làm sáng mắt, trừ tà khí, làm chậm quá trình lão hoá, tăng tuổi thọ. Thường dùng trong các trường hợp: khí huyết suy hư, nguyên khí tổn hại, cơ thể suy nhược, phế hư sinh ho suyễn, tỳ hư sinh tiết tả, vị hư sinh nôn mửa, thận hư tinh yếu, đau lưng mỏi gối, người mới ốm dậy, người suy nhược thần kinh thường hoảng hốt, bất an. Ngày dùng 1,5 – 3g, có khi nhiều hơn. Dạng thuốc sắc uống, chưng cách thuỷ, hấp, ngâm rượu, tán bột, hoà với mật ong, hoặc hầm với các thực phẩm khác để ăn. |