Dọc mùng có tác dụng 'hút mỡ’ nhưng tối kỵ với một số người

| Sống khỏe

Dọc mùng là thực phẩm quen thuộc trồng ở một số địa phương, chế biến thành nhiều món ăn khác nhau.

Theo lương y Vũ Quốc Trung - Hội Đông y huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, dọc mùng còn gọi là bạc hà, mon thơm, được trồng nhiều ở các địa phương trong cả nước. Cây dọc mùng dễ phát triển ở nhiều loại đất khác nhau nhưng hay mọc ở nơi ẩm ướt.

Theo y học hiện đại, trong khoảng 100g dọc mùng chứa 95g nước, 0,25g protein và lương bột đường là 3,8g. Dọc mùng chứa lượng lớn phốt pho, kali, canxi, magie, sắt, vitamin C.

Theo Đông y, dọc mùng có vị nhạt, tính mát, không có độc, tác dụng thanh nhiệt, giải độc. Vì vậy, ngoài dùng làm thực phẩm nấu canh cá, canh sườn, dọc mùng còn có tác dụng chữa bệnh. Thân và lá dọc mùng tiêu ứ, trừ giun. Củ dọc mùng phơi khô tán bột để chữa bệnh ngoài da.

Dọc mùng có tác dụng 'hút mỡ’ nhưng tối kỵ với một số người - Ảnh 1.

Dọc mùng có thể được chế biến làm nhiều món ăn.

Trong đời sống hằng ngày, dọc mùng được chế biến làm các món ăn như canh, bún, nộm, luộc thậm chí muối như dưa chua. Dọc mùng hợp với các món giàu chất đạm. Ngày hè, dọc mùng được nhiều người ưa thích vừa thanh mát, giải độc, ngon miệng.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng dọc mùng tốt cho những người bị mỡ máu, cholesterol máu cao, được coi như “máy quét”mỡ ra khỏi cơ thể. Đây cũng là thực phẩm đầu bảng tốt cho giảm cân, hệ tim mạch.

Dọc mùng có thể dùng tươi hoặc phơi khô làm thuốc. Để điều trị bệnh sởi, người ta lấy bẹ dọc mùng rửa sạch, phơi khô và đem nấu với nước cho tới khi cô đặc lại, uống 2-3 lần/ngày, kiên trì trong 4-5 ngày. Dọc mùng còn sử dụng trong trị cảm cúm bằng cách phơi khô, sắc cô đặc, uống khi còn ấm nóng.

Tuy nhiên, chế biến dọc mùng không cẩn thận dễ gây ngứa họng khi ăn nên nhiều người không thích. Sơ chế dọc mùng cần làm thật kỹ. Thân dọc mùng tước sạch vỏ, bỏ phần màng trắng, sau đó ngâm với nước muối khoảng 15 phút. Vắt sạch nước trong dọc mùng rồi mang đi nấu canh.

Lương y Trung khuyến cáo người tăng axit uric hạn chế ăn dọc mùng. Người có cơ địa dị ứng dọc mùng có thể bị ngứa, nên tham khảo ý kiến thầy thuốc trước khi dùng.

Theo Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế, cây dọc mùng thường hay bị nhầm với cây ráy. Trái ngược với hương vị giòn ngọt, tươi mát của dọc mùng sau khi chế biến cẩn thận, ăn phải lá hoặc thân ráy thường dẫn tới các triệu chứng tê môi lưỡi, cứng hàm, méo miệng. Triệu chứng này xuất phát từ hàm lượng sapotoxin có trong cây ráy.

Để phân biệt cây ráy và cây dọc mùng, bạn lưu ý, cuống lá của dọc mùng có màu xanh nhạt và phủ một lớp phấn trắng bên ngoài. Cuống lá của cây ráy to và cứng cáp, khi tiếp xúc trực tiếp với da thường gây phản ứng ngứa rát.

Bình luận (0)
Ý kiến của bạn
Tags:

Cùng chuyên mục

Phụ nữ tiền mãn kinh sau 40 tuổi có thực sự bị chậm chuyển hoá? 7 điều bác sĩ khuyên nên làm để giữ cơ, giữ dáng

Phụ nữ tiền mãn kinh sau 40 tuổi có thực sự bị chậm chuyển hoá? 7 điều bác sĩ khuyên nên làm để giữ cơ, giữ dáng

Bệnh thường gặp -

GĐXH - Tuổi 40 không phải dấu mốc để phụ nữ bắt đầu một chế độ ăn kiêng khắc nghiệt, mà là thời điểm cần học cách chăm cơ thể khác đi. Giữ cơ thay vì chỉ giữ cân, ăn đủ đạm, ngủ tốt, vận động và kiểm soát các chỉ số chuyển hóa là những điều chuyên gia khuyến nghị.

Giá đỗ ít calo, người mắc tiểu đường cần lưu ý gì khi ăn?

Giá đỗ ít calo, người mắc tiểu đường cần lưu ý gì khi ăn?

Bệnh thường gặp -

GĐXH - Khi phải kiểm soát đường huyết, nhiều người có xu hướng tìm những loại rau ít năng lượng để bổ sung vào thực đơn hằng ngày. Giá đỗ là một lựa chọn dễ tìm, giá rẻ, có thể chế biến thành nhiều món ăn và góp phần làm phong phú khẩu phần. Tuy nhiên, ăn giá đỗ thế nào để phù hợp với chế độ ăn kiểm soát đường huyết, và liệu thực phẩm này có thực sự giúp hạ đường huyết như nhiều người kỳ vọng?

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.