Huyền sâm, sa sâm chữa viêm đường hô hấp

| Y học cổ truyền

Thường những cây thuốc và vị thuốc gọi là "sâm" đều có tác dụng bổ. Cũng có tên sâm, nhưng huyền sâm và sa sâm lại được dùng để chữa bệnh, đặc biệt là những chứng viêm đường hô hấp.

 
Huyền sâm
 
Là một cây thảo sống lâu năm, thuộc họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae). Cây cao khoảng 1,5 - 2m, thân vuông màu lục, có rãnh dọc. Lá mọc đối, đầu nhọn, mép khía răng.
 
Theo y học dân tộc, huyền sâm có vị ngọt, hơi đắng, tính hơi lạnh, có tác dụng chữa các bệnh nhiệt, đau mắt, viêm họng, ung nhọt, sưng tấy. Trong huyền sâm có chất scrophurarin, asparagin, phytosteron nên có tính chất sát khuẩn.
 
Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh, huyền sâm có tác dụng làm giảm sốt, giảm các phản ứng viêm nhiễm, diệt được các vi khuẩn staphylocoque, streptocoque... là những vi khuẩn gây viêm nhiễm thường gặp.
 

Huyền sâm có vị ngọt, hơi đắng, tính hơi lạnh, chữa các bệnh nhiệt, đau mắt, viêm họng, ung nhọt, sưng tấy. Trong ảnh: Hoa huyền sâm (Ảnh: Internet).

Hiện nay, huyền sâm được dùng chủ yếu để chữa viêm nhiễm, nhất là các chứng viêm họng, viêm amiđan, lở loét ở miệng, ho, mụn nhọt... Liều dùng mỗi ngày 8 - 12g dưới nhiều dạng thuốc: nước sắc, cốm, cao, viên nén. Dạng thuốc được dùng phổ biến hơn cả là cốm huyền sâm, dùng rất tiện.

Sa sâm
 
Sa sâm còn có tên là Cỏ chân vịt, hải cúcm, là một loại cây cỏ sống lâu năm, mọc hoang ở các bãi cát ven biển, thuộc họ cúc. Sa sâm mọc bò trên mặt cát, mỗi gốc cây có thể mọc ra hai hay ba thân bò hình sợi dài có nhiều đốt, mỗi đốt dài 20 - 30cm. Ở mỗi đốt thân mọc bò này lại có rễ ăn xuống đất và có lá ở trên như một cây riêng.

Cứ như vậy, cây mọc lan ra, chạy dài mãi. Cây sa sâm mọc hoang nhiều ở vùng ven biển nước ta. Nhân dân địa phương vẫn hái lá non của cây này về làm rau trộn với dầu giấm ăn sống và đào rễ cây về làm thuốc.

Vào mùa thu, khoảng tháng 8, tháng 9, người ta đào rễ sa sâm về rửa sạch, phơi khô là dùng được. Theo Đông y, sa sâm vị hơi ngọt, hơi đắng, tính hơi lạnh, có tác dụng mát phổi, dưỡng huyết, chữa ho, hết đờm, trừ phiền nhiệt, được dùng chủ yếu để chữa ho, trừ đờm và làm mát phổi. Liều dùng mỗi ngày 10 - 20g sắc uống.

Có thể dùng riêng hoặc phối hợp với nhiều vị thuốc khác như rễ vú bò, hà thủ ô, bạch truật nam, rễ gai, hoài sơn, cam thảo dây, trần bì, gừng... sắc uống hoặc làm viên uống.
 
Theo BS. Kim Minh
KH&ĐS
thuhuyen
Ý kiến của bạn
9 bài thuốc trị đau bụng do nhiễm lạnh

9 bài thuốc trị đau bụng do nhiễm lạnh

Y tế -

Đau bụng do nhiễm lạnh thường có biểu hiện bụng lạnh đau, đầy bụng, ăn không tiêu, tiêu chảy, đôi khi buồn nôn, nôn, tay chân lạnh, sợ lạnh... Theo y học cổ truyền, có thể sử dụng các bài thuốc có tác dụng làm ấm cơ thể, giảm đau hiệu quả như sau.

Bài thuốc trị nhiệt miệng

Bài thuốc trị nhiệt miệng

Y tế -

Nhiệt miệng là chứng bệnh thường phát về mùa hè với những vết viêm loét ở đầu lưỡi hoặc ở niêm mạc trong khoang miệng, kèm theo viêm lợi, ngứa lợi, lợi có màu đỏ, hơi sưng nề, dễ chảy máu, sốt, mất ngủ, tâm phiền...

Ăn thịt vịt để yêu bền bỉ

Ăn thịt vịt để yêu bền bỉ

Y tế -

Thịt vịt từ lâu đã được biết đến như một món ăn ngon miệng, bổ dưỡng, đặc biệt trong những ngày hè. Bạn đã rất quen thuộc với các món lẩu vịt măng chua, vịt om sấu, vịt quay, vịt nướng...

Món ăn tốt cho phụ nữ hiếm muộn

Món ăn tốt cho phụ nữ hiếm muộn

Y tế -

Theo y học cổ truyền, phụ nữ hiếm muộn phần nhiều do kinh nguyệt, khí huyết không điều hòa. Y học cổ truyền có nhiều bài thuốc hay, hiệu quả.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.