Thảo mộc điều trị tăng huyết áp

| Y học cổ truyền

Tăng huyết áp có thể do các nguyên nhân: do thận như viêm cầu thận cấp tính, ứ nước bể thận, u tủy xương thận, hẹp động mạch thận...

Tăng huyết áp có thể do các nguyên nhân: do thận như viêm cầu thận cấp tính, ứ nước bể thận, u tủy xương thận, hẹp động mạch thận; do nguyên nhân khác như: hẹp eo động mạch chủ, nhiễm độc thai nghén; do nguyên nhân thần kinh, cường tuyến giáp trạng, hở  van động mạch chủ, hoặc có thể là tăng huyết áp không rõ nguyên nhân. Việc điều trị tùy thuộc nguyên nhân để dùng thuốc thích hợp. Trong y học cổ truyền cũng có nhiều loại thuốc điều trị hiệu quả.
 
Các loại dược thảo điều trị tăng huyết áp

Dâu tằm: vỏ rễ dâu chữa phù thũng, bụng chướng to, tiểu tiện không thông, tăng huyết áp. Ngày dùng 4 - 12g,  có khi đến 30g, sắc uống. Lá dâu chữa tăng huyết áp, nhức đầu, mất ngủ, sốt nóng, ho, viêm họng. Ngày dùng 6 - 12g, sắc uống.

Cúc hoa trắng: được dùng làm thuốc chữa tăng huyết áp, nhức đầu, chóng mặt, đau dây thần kinh. Ngày dùng 10 - 15g, sắc uống.
 

Cúc hoa trắng.

 
Ngưu tất: ngưu tất có tác dụng hạ cholesterol máu, hạ huyết áp, chống viêm. Chữa đái rát buốt, đái ra máu, được dùng làm thuốc lợi tiểu, chữa tăng huyết áp, thấp khớp, sỏi đường tiết niệu.

Mạch môn: được dùng để lợi tiểu, chữa tăng huyết áp, điều hoà nhịp tim khỏi hồi hộp, chữa mất ngủ.

Đương quy: có tác dụng ức chế ngưng tập tiểu cầu. Được dùng điều trị huyết ứ trệ, tăng huyết áp, thiếu máu.

Dành dành: có tác dụng hạ huyết áp, hạ cholesterol máu, gây trấn tĩnh, giảm đau, lợi tiểu. Quả dành dành được dùng chữa tiểu tiện khó khăn, tiểu tiện ra máu. Ngày dùng 6 - 12g sắc uống. Rễ dành dành có tác dụng chữa viêm thận, phù thũng. Ngày dùng 15 - 30g  sắc uống.

Đảng sâm: có tác dụng bổ toàn thân và kích thích miễn dịch. Đảng sâm Trung Quốc có tác dụng gây tăng hồng cầu, hạ huyết áp do làm giảm mạch ngoại vi. Đảng sâm được dùng chữa viêm thận, nước tiểu có albumin, chân phù đau. Ngày dùng 20 - 40g, sắc uống.

Táo ta: hạt táo có tác dụng an thần gây ngủ và gây hạ huyết áp kéo dài. Ngày dùng 1 - 1,5g tương đương với khoảng 15 - 20 nhân hạt. Nếu dùng liều cao (6 - 8g) phải sao đen, nghiền thành bột uống.

Trạch tả: có tác dụng hạ huyết áp, lợi tiểu, hạ lipid huyết và chống vữa xơ động mạch. Trên lâm sàng, ở những bệnh nhân tăng lipid máu, có tác dụng làm giảm cholesterol, bêta-lipoprotein và triglycerid trong máu. Ngày dùng 10 - 20g, sắc uống.

Ngũ vị tử: gây hạ huyết áp do tác dụng giãn mạch và là thuốc bổ. Ngày dùng 6 - 12g, sắc uống.

Đỗ trọng: Gây hạ huyết áp và lợi niệu, dùng điều trị chứng tăng huyết áp và thận hư, sưng tê phù.  Ngày dùng 12 - 20g, có khi tới 30g, sắc uống.

Các bài thuốc điều trị tăng huyết áp

Bài 1: Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có vữa xơ động mạch, chóng mặt, ù tai: Thục địa 25g, hoài sơn 15g; phục linh, sơn thù du, mỗi vị 12g, mẫu đơn bì, lá dâu tằm, cúc hoa trắng, mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có nhịp tim nhanh, ra mồ hôi, có hiện tượng ứ trệ huyết ở mạch máu ngoại biên: thục địa, mạch môn, đương quy, long đởm thảo, dành dành, hoàng liên, hoàng bá, thạch cao mỗi vị 30g; ngưu tất 25g; tri mẫu 10g, mộc hương 6g. Tất cả các vị tán bột, làm thành viên hoàn 0,5g. Mỗi lần uống 4 viên, ngày 3 lần.

Bài 3: Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có bệnh cơ tim: phục linh 15g, bá tử nhân 12g; toan táo nhân (sao đen), thục địa, hoài sơn, đương quy mỗi vị 10g, mộc hương 6g, hoàng liên 3g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 4: Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân mắc bệnh thận: phục linh, thục địa, hoài sơn, thạch hộc mỗi vị 12g; cúc hoa trắng, kỷ tử, sơn thù du, trạch tả, mỗi vị 10g, mẫu đơn bì 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 5: Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có giãn tim, chóng mặt, khó thở, ra mồ hôi, có biểu hiện ứ trệ huyết: mạch môn, hà thủ ô đỏ mỗi vị 15g; thục địa, đương quy, ngũ vị tử, toan táo nhân (sao đen), huyền sâm, mỗi vị 10g; phục linh, thạch xương bồ, cúc hoa trắng, cam thảo bắc, đảng sâm mỗi vị 6g; dành dành 3g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 6: Chữa tăng huyết áp mức độ vừa: hoài sơn, tri mẫu, bắc sa sâm, huyền sâm, vỏ rễ dâu, mỗi vị 15g; thục địa, mẫu đơn bì, toan táo nhân  (sao đen), hà thủ ô đỏ mỗi vị 10g; phục linh, thạch xương bồ, đương quy, hoàng cầm mỗi vị 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 7: Chữa tăng huyết áp ở người cao tuổi có vẻ mặt khoẻ mạnh: hạ khô thảo 30g; mẫu đơn bì, bạch thuợc mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Có thể dùng trong thời gian dài.

Theo GS. Đoàn Thị Nhu
SK&ĐS
thuhuyen
Ý kiến của bạn
9 bài thuốc trị đau bụng do nhiễm lạnh

9 bài thuốc trị đau bụng do nhiễm lạnh

Y tế -

Đau bụng do nhiễm lạnh thường có biểu hiện bụng lạnh đau, đầy bụng, ăn không tiêu, tiêu chảy, đôi khi buồn nôn, nôn, tay chân lạnh, sợ lạnh... Theo y học cổ truyền, có thể sử dụng các bài thuốc có tác dụng làm ấm cơ thể, giảm đau hiệu quả như sau.

Bài thuốc trị nhiệt miệng

Bài thuốc trị nhiệt miệng

Y tế -

Nhiệt miệng là chứng bệnh thường phát về mùa hè với những vết viêm loét ở đầu lưỡi hoặc ở niêm mạc trong khoang miệng, kèm theo viêm lợi, ngứa lợi, lợi có màu đỏ, hơi sưng nề, dễ chảy máu, sốt, mất ngủ, tâm phiền...

Ăn thịt vịt để yêu bền bỉ

Ăn thịt vịt để yêu bền bỉ

Y tế -

Thịt vịt từ lâu đã được biết đến như một món ăn ngon miệng, bổ dưỡng, đặc biệt trong những ngày hè. Bạn đã rất quen thuộc với các món lẩu vịt măng chua, vịt om sấu, vịt quay, vịt nướng...

Món ăn tốt cho phụ nữ hiếm muộn

Món ăn tốt cho phụ nữ hiếm muộn

Y tế -

Theo y học cổ truyền, phụ nữ hiếm muộn phần nhiều do kinh nguyệt, khí huyết không điều hòa. Y học cổ truyền có nhiều bài thuốc hay, hiệu quả.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.