Vô sinh là tại ở ác?
Suy nghĩ về chuyện vô sinh của người châu Á còn rất nặng nề. Cưới nhau về mà hai, ba năm chưa có bầu là lời ra tiếng vào rất mệt mỏi, nhất là đối với người phụ nữ.
Trong gia đình chồng thì đầy áp lực, ra bên ngoài dư luận xì xào, xét nét, có ngưới còn ác miệng chê cười: “Ai kêu ở ác quá nên không con”...Có những cặp vợ chồng sống trong gây gổ, hận thù nhau cả một đời chỉ vì chuyện không con. Nhưng có những người vợ vì giữ tiếng cho chồng, chịu đựng một mình suốt bao năm dù gia đình chồng đổ lỗi hết cho mình, đến mức phải bỏ xứ mà đi. Căng thẳng, sợ hãi trước dư luận xã hội về chuyện vô sinh là nguyên nhân chính làm tan vỡ hạnh phúc biết bao gia đình.
Tại anh và tại em
![]() |
|
BS Vương Thị Ngọc Lan – thạc sĩ phôi học lâm sàng, đại học quốc gia Singapore. Thạc sĩ sản phụ khoa đại học Y dược TP.HCM. Hiện là giảng viên bộ môn phụ sản (đại học Y dược TP.HCM). |
![]() |
|
Làm chủ nhiều kỹ thuật
trị vô sinh của thế giới
Năm 1995, Việt Nam bắt đầu thực hiện kỹ thuật bơm tinh trùng vào buồng tử cung, gọi là thụ tinh nhân tạo (IUI). Kỹ thuật này áp dụng cho các trường hợp hiếm muộn không rõ nguyên nhân hoặc hiếm muộn do các bất thường nhẹ. Riêng thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) cũng bắt đầu được Việt Nam thực hiện từ năm 1997. Kỹ thuật IVF chủ yếu dùng điều trị cho các trường hợp tắc vòi trứng, bất thường tinh trùng trung bình và nặng, hoặc đã thất bại nhiều lần với kỹ thuật IUI. Kỹ thuật IVF kết hợp với tiêm thẳng tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI) cũng được thực hiện thành công từ năm 1998 (chủ yếu áp dụng cho các trường hợp bất thường tinh trùng trung bình đến nặng). Từ năm 2002 đến nay, Việt Nam cũng đã thực hiện được một số kỹ thuật điều trị vô sinh mới như: kỹ thuật ICSI (điều trị cho những trường hợp không có tinh trùng trong tinh dịch); đông lạnh phôi bằng kỹ thuật thuỷ tinh hoá; nuôi cấy phôi nang, thụ tinh trong ống nghiệm xin trứng, trữ lạnh trứng, hỗ trợ phôi thoát màng, trữ lạnh mô tinh hoàn… Đặc biệt, hiện nay Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong khu vực về kỹ thuật trưởng thành trứng trong ống nghiệm (IVM). Cho đến nay, có thể nói Việt Nam đã thực hiện thành công tất cả các kỹ thuật hiện có trên thế giới trong lãnh vực hỗ trợ sinh sản. Chúng ta cũng đang giữ vị trí là nước thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm nhiều nhất trong khu vực Đông Nam Á. |
Để chữa vô sinh, điều cần nhất là phải đồng vợ, thuận chồng, và cả hai cùng phải kiên trì, vì thời gian điều trị có khi kéo dài nhiều năm. Điều trị vô sinh phải có sức chịu đựng tâm lý dữ dội không chỉ phía bệnh nhân mà còn cả bác sĩ. Bởi giáo dục y khoa của chúng ta cũng rất thiếu thông tin nên đòi hỏi người bác sĩ phải trao đổi cụ thể, chuyên sâu cho từng người bệnh, không chỉ về bệnh lý mà còn cả tâm lý. Mặc dù chi phí thụ tinh trong ống nghiệm tại Việt Nam thuộc loại thấp nhất trên thế giới (chi phí cho một ca trung bình khoảng 40 triệu đồng), tỷ lệ thành công ở một số trung tâm của Việt Nam đạt từ 35 – 40% (tỷ lệ có thai trung bình trên thế giới, theo các báo cáo của Mỹ và châu Âu là vào khoảng 30 – 35%) nhưng chúng ta vẫn còn 60% thất bại. Nghĩa là gặp thất bại mỗi ngày. Đó cũng là day dứt của chúng tôi và luôn dặn lòng không bao giờ được thoả mãn với công việc mình đã làm được. Có lần, tôi nhận được một bức thư viết tay, chữ rất đẹp, gởi qua đường bưu điện. Chị kể hai vợ chồng là công nhân viên ở tỉnh Trà Vinh, bị thai ngoài tử cung phải cắt hai vòi trứng, muốn có con chỉ còn cách thụ tinh ống nghiệm. Không có tiền, chị phải thức từ 2h sáng nấu xôi bán đến 8h lại tiếp tục vào cơ quan, anh thì chạy xe ôm ngoài giờ để lấy tiền sinh sống. Toàn bộ tiền lương cả hai dành dụm để đi điều trị. Một trường hợp khác, một cặp vợ chồng người dân tộc Tày quê ở tận Lạng Sơn tới tìm tôi vừa khóc, vừa xin được điều trị cho đến khi nào có con mới về, vì đã bị cả buôn hắt hủi, xa lánh, gọi là “ma độc” của làng. Qua chẩn đoán, tôi phát hiện người vợ bị tắc vòi trứng và liền cho thụ tinh trong ống nghiệm. Kết quả là anh chị đã sinh một cháu gái rất kháu khỉnh.
Không chỉ bệnh nhân trong nước, nhiều người nước ngoài cũng đã tìm tới Việt Nam để chữa bệnh vô sinh. Mới đây thôi, một cặp vợ chồng người Anh đã khá lớn tuổi ẵm cậu con trai rất dễ thương đến tìm tôi, nói trong nước mắt: “Mấy chục năm nay, vợ chồng tôi sống chung với nhau không một ngày nào là không suy nghĩ làm sao có được một đứa con. Cảm ơn chị, cảm ơn Việt Nam”. Nhìn những em bé sinh ra trong nước mắt, nụ cười như thế, tôi thấy mình như được tiếp thêm sức để dấn thân sâu hơn vào nghiên cứu những kỹ thuật mới để giúp cho nhiều chị em được giải oan: chưa sinh được con không phải vì ở ác.
Thông báo

