Hướng mới trong điều trị đái tháo đường
Gần đây các công trình nghiên cứu ghép tế bào gốc để điều trị bệnh ĐTĐ đã mang lại một hy vọng mới rất sáng sủa.
Căn bệnh thời đại
Bệnh ĐTĐ có hai thể chính: ĐTĐ loại 1 do tụy tạng không tiết insulin và loại 2 do tiết giảm insulin và đề kháng insulin.
![]() |
|
Chu trình sản xuất insulin của tuyến tụy. |
ĐTĐ loại 2 (týp 2): chiếm khoảng 90-95% số bệnh nhân, thường gặp ở lứa tuổi trên 40, nhưng gần đây xuất hiện ngày càng nhiều ở lứa tuổi 30, thậm chí cả lứa tuổi thanh thiếu niên. Bệnh nhân ít có triệu chứng và thường chỉ được phát hiện bởi các triệu chứng của biến chứng, hoặc chỉ được phát hiện tình cờ khi đi xét nghiệm máu trước khi mổ hoặc khi có biến chứng nặng như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não; khi bị nhiễm khuẩn da kéo dài; bệnh nhân nữ hay bị ngứa âm hộ do nhiễm nấm; bệnh nhân nam bị liệt dương.
Các triệu chứng chủ yếu của cả hai thể bệnh là tiểu nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, sụt cân nhanh. Lượng nước tiểu trong một ngày thường từ 3-4 lít hoặc hơn, nước tiểu trong, khi khô thường để lại vết bẩn hoặc mảng trắng. Tiểu dầm ban đêm do đa niệu có thể là dấu hiệu khởi phát bệnh ở trẻ nhỏ. Với bệnh nhân ĐTĐ loại 2 thường không có bất kỳ triệu chứng nào ở giai đoạn đầu và vì vậy bệnh thường chẩn đoán muộn khoảng 7-10 năm. Một số triệu chứng xét nghiệm: định lượng đường huyết lúc đói trên 126mg/dl ; sau khi ăn hoặc bất kỳ trên 200mg/dl; đo điện tim có thể phát hiện sớm các biểu hiện thiếu máu cơ tim; soi đáy mắt phát hiện tổn thương võng mạc...
Những phương pháp điều trị phối hợp gồm: chế độ ăn uống cần đảm bảo đủ chất đạm, đường, béo, vitamin, muối khoáng, nước hợp lý. Hoạt động thể lực bình thường hàng ngày. Duy trì được cân nặng ở mức hợp lý. Hạn chế các yếu tố nguy cơ như rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, suy thận... Thuốc uống: insulin dùng cho bệnh nhân ĐTĐ týp1 và chỉ dùng cho bệnh nhân ĐTĐ týp 2 khi đã thay đổi chế độ ăn, luyện tập và dùng các thuốc điều trị ĐTĐ tổng hợp mà không hiệu quả.
Dựa trên cơ sở khoa học: thứ nhất là tuyến tụy phải luôn luôn giữ số lượng tế bào bêta không thay đổi, nếu không sẽ xảy ra bệnh ĐTĐ, do đó vấn đề chủ yếu là sự đổi mới những tế bào này như thế nào; thứ hai, năm 2003, Markus Stoffel thuộc Đại học Rockfeller University đã nghiên cứu phát biểu rằng trong tủy xương có một nguồn tế bào tiền bối của những đảo nhỏ Langerhans tuyến tụy. Nhóm nghiên cứu của GS. Richard Burt ở Trường đại học Northwestern University de Chicago đã tiến hành thực nghiệm và công bố trong Journal of the American Medical Association (JAMA) công trình nghiên cứu theo dõi trong 3 năm trên một nhóm 23 bệnh nhân ĐTĐ. Nhóm bệnh nhân này đã được dùng phương pháp ghép các tế bào gốc lấy trong tủy xương của chính họ. Ưu điểm của kỹ thuật ghép này là bệnh nhân nhận các tế bào của chính mình nên không phải đối phó với hiện tượng cơ thể loại bỏ "mảnh ghép", không phải điều trị hủy bỏ miễn dịch suốt đời. Kết quả rất khả quan: 23 bệnh nhân không cần tiêm insulin mỗi ngày trong 14-50 tháng liền; một bệnh nhân trong hơn 4 năm, 4 bệnh nhân trong 3 năm và 3 bệnh nhân khác trong 2 năm không cần tiêm insulin; 15 bệnh nhân mới đã được thực nghiệm những cải tiến mới nhất về kỹ thuật đã không cần đến insulin 19 tháng.
Như vậy là sau phương thức ghép tế bào tụy tạng, phương pháp ghép tế bào gốc tủy xương đã đánh dấu một bước ngoặt mới trong việc điểu trị bệnh ĐTĐ, mang lại hy vọng lớn cho bệnh nhân ĐTĐ.
Theo ThS. Bùi Quỳnh Nga
SK&ĐS
