Những chứng nhân huyền thoại: Chiến dịch cuối cùng
GiadinhNet - Trong những đoàn tàu lênh đênh trên biển (1972-1975) có mặt những chiến sĩ Vũ Văn Đức và Triệu Xuân Hoãn.
Ông Vũ Văn Đức, lính "tàu không sô" Nhật Lệ 604 bồi hồi nhớ lại: Sau Hiệp định Paris, những chiến sĩ thuộc "thế hệ thứ ba" của "tàu không số" (từ 1972 đến 1975) như cách nói của ông Đức có được nhiều thuận lợi trong nhiệm vụ vận tải hàng hóa chi viện cho chiến trường miền Nam. Những con tàu từ "đại bản doanh" ở Hải Phòng cứ hiên ngang tiến vào Nhật Lệ (Quảng Bình). Tại đây, loại tàu "hai đáy" (phía trên là tàu cá, phía dưới là tàu quân sự) của các chiến sĩ miền Nam sẽ ra đón. Trong trường hợp tình hình yên ổn, "tàu không số" sẽ đi tiếp vào Cửa Việt (Quảng Trị) để trung chuyển hàng hóa. Nhưng, nói vậy không có nghĩa là các thủy thủ của lữ đoàn 125 giai đoạn này... "sướng". Họ cũng đã trải qua những thời khắc "ngàn cân treo sợi tóc", những mất mát không cầm được nước mắt.
![]() Ông Vũ Văn Đức - thủy thủ tàu Nhật Lệ 604.Ảnh: Việt Nguyễn |
Ký ức của cựu chiến binh Vũ Văn Đức về con tàu mang tên Nhật Lệ 604 vẫn vẹn nguyên như vừa xảy ra hôm qua. Ông bảo rằng, "làm lính tàu không số mà chết trên đất Bắc thì tiếc lắm". Nhưng chuyến đi đầu tiên của ông Đức với tàu Nhật Lệ 604 lại gặp nạn. Tàu của ông Đức trúng đạn địch ngay bên bờ vịnh Hạ Long. Đoàn 125 khi đó có tất cả 10 chiếc Nhật Lệ. Một chiếc bị trúng bom ở Sở Dầu (Hải Phòng), một chiếc chìm ở khu vực Cà Mau. Đây là loại tàu lớn, hiện đại, khả năng vận tải khoảng 200 tấn hàng hóa trong mỗi chuyến đi. Tháng 12/1972, tàu 604 và 3 chiếc tàu Nhật Lệ khác đi chuyến đầu tiên đến cảng Trạm Giang (Trung Quốc) để đón 4 tàu tên lửa hải đối hải do Liên Xô viện trợ. Song, chuyến đi này đã bị địch phát hiện và theo dõi.
Ngày 19/12, tình hình bỗng trở nên cực kỳ nguy nan khi máy bay địch phát hiện và oanh tạc dữ dội nhằm phá hủy toàn bộ phương tiện, khí tài của ta. Trên tàu Nhật Lệ 604 khi đó chỉ có hai khẩu 12 ly 7 nên việc chiến đấu với máy bay phản lực là rất rủi ro. Hệ thống ăng-ten liên lạc với tàu phá lôi đã bị đánh sập. Ông Đức cùng các đồng đội cho tàu áp sát vào bờ vịnh, lợi dụng các vách đá lớn để tránh bom. Đồng thời, thuyền trưởng, chính trị viên cũng quán triệt với toàn bộ thủy thủ phương châm tránh né địch là chính, bảo toàn lực lượng.
![]() “Tàu không số” góp công lớn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ảnh tư liệu. |
Giữa làn mưa bom bão đạn của quân thù, các chiến sĩ tàu Nhật Lệ 604 bình tĩnh ứng phó để cứu cho tàu khỏi bị tổn thất nặng nhất. Về phía địch, sau khi rải bom không hiệu quả vì vướng vách đá, chúng chuyển sang bắn rocket và đạn 12 ly. Ở phía trên, lớp ngụy trang như lưới, bạt phủ đang cháy bùng bùng. Dưới khoang máy, hầm hàng, toàn bộ thủy thủ được huy động để dập lửa. Cả một góc vịnh lửa cháy ngùn ngụt. Ông Đức và đồng đội lo lắng nhìn con tàu trong chốc lát đã mang đầy thương tích. Tin xấu nữa lại đến, một tàu tên lửa đã bị bom đánh chìm xuống vịnh Hạ Long khi chưa kịp tham gia một trận hải chiến nào.
Ngày 27/1/1973 tại Paris, "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam" đã được ký kết. Hiệp định đã buộc Mỹ phải rút hết quân ra khỏi miền Nam Việt Nam. Lúc này, tàu Nhật Lệ 604 được đưa ra nước ngoài sửa chữa. Ăn Tết xong, ông Đức về nước cùng đồng đội lại tiếp tục nhiệm vụ chở hàng hóa, vũ khí cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Cựu chiến binh Triệu Xuân Hoãn- người được ông Khoa, ông Đức ví là "nhà viết sử" vì đang soạn một cuốn kỷ yếu các chiến sĩ về "tàu không số" tại Quảng Ninh - nhớ lại: Tôi có một vinh dự là vào đúng thời khắc lịch sử 11h30 ngày 30/4/1975 thì nhận được lệnh của Bộ Tư lệnh là đi ngay Côn Đảo tham gia giải phóng tù chính trị. Trong chiến dịch cuối cùng này, những đoàn "tàu không số" còn đảm nhận thêm nhiều nhiệm vụ quan trọng khác, đặc biệt là giải phóng các đảo ngoài khơi của Việt Nam để niềm vui thống nhất non sông càng thêm trọn vẹn.
Mỗi con người kinh qua sóng gió biển Đông trên "tàu không số" ở mỗi thời kỳ đều có những kỷ niệm riêng, những gian nan và thuận lợi nhất định. Có người chỉ đi được 1-2 chuyến vào Nam, có người sau này "đi như đi chợ", song họ đều chung một hoài bão là cống hiến hết tuổi thanh xuân vì mục đích lớn lao của cả dân tộc mà không màng tới khó khăn, hiểm nguy. Có thủy thủ đã nằm lại giữa biển sâu cùng con tàu của mình, có người nay thành anh hùng. Người còn nhớ, người đã vì bệnh tật mà quên hết thảy. Nhưng, con đường không dấu vết giữa sóng nước biển Đông vẫn còn mãi trong lịch sử cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

