Trị vẩy nến theo Đông y
GiadinhNet - Trong Đông y, vẩy nến còn có tên bạch sang hay tùng bì tiễn. Những bài thuốc cổ phương, y học cổ truyền dưới đây có thể giúp bệnh thuyên giảm
Vẩy nến có từ rất lâu nhưng cho đến nay, cả y học hiện đại lẫn Đông y đều chưa thể xác định rõ ràng nguyên nhân gây bệnh. Trong Đông y, bệnh này còn có tên khoa học là bạch sang hay tùng bì tiễn. Qua phân tích, y học cổ truyền cho rằng bệnh do 4 nguyên nhân sau:
- Do ngoại cảm phong tà: Lúc bắt đầu ở bì (da) bị phù, lâu ngày hóa nhiệt gây nên tình trạng dinh vệ bất hòa, khí huyết không thông mà sinh ra bệnh.
- Do thấp nhiệt uất trệ tại cơ bì, lâu ngày gây tổn thương khí huyết, huyết hư phong táo, cơ bì mất dinh dưỡng và bệnh ngày càng nặng hơn.
- Do cân thận âm huyết bất túc, hai mạch xung nhâm thiếu dinh dưỡng gây tổn thương dinh huyết
- Do trị bệnh không đúng, lại thêm nhiễm phải độc tà hóa nhiệt hóa táo, táo nhiệt sinh độc, độc đi vào dinh huyết tạo thành chứng khí huyết hư.
|
Tỷ lệ mắc bệnh Châu Âu và châu Mỹ: Từ 2 - 3% dân số. Ở Mỹ, mỗi năm ghi nhận thêm khoảng 150.000 ca vẩy nến mới được chẩn đoán. Châu Á, tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn. Châu Âu khoảng 0,4%. Trên thế giới, bình quân có từ 0,1 - 3% dân số mắc bệnh này. Lứa tuổi mắc bệnh nhiều nhất thường từ 15 - 30 tuổi. |
Bệnh thường tái phát theo mùa, có người nặng về mùa hè, có người nặng về mùa đông. Bệnh lâu ngày tính chất theo mùa không còn rõ rệt mà tái phát tùy tình trạng.
Ba thể bệnh đặc biệt
Thể da đỏ: Khi bệnh phát triển, da toàn thân đỏ, sưng, tróc vẩy có kèm theo sốt, các khớp bị đau, long bàn chân hóa sừng, móng dày lên và rụng đi.
Thể khớp: Thường vẩy nến lan nhanh đến các khớp lớn nhỏ trong cơ thể như khớp ngón tay, khớp cổ tay, cổ chân, khớp gối. Nếu bệnh nhẹ sẽ làm các khớp sưng lên, bệnh nặng sẽ gây nên hiện tượng dịch bao khớp, xương bị hủy hoại, khớp bị biến dạng.
|
Nghiên cứu về nguy cơ
mắc bệnh vẩy nến
- 41% nếu có cả bố lẫn mẹ cùng mắc bệnh. - 14% nếu có bố hoặc mẹ mắc bệnh. - 6% nếu có 1 người trong số anh chị em ruột mắc bệnh. - Có khoảng 35-73% trường hợp anh chị em sinh đôi cùng trứng cùng mắc bệnh. |
- Huyết nhiệt: Da có dát sần mới đỏ tươi có vẩy, mùa hè những cơn ngứa thường tăng kèm táo bón tiểu đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác.
Phép trị: Lương huyết thanh nhiệt
Bài thuốc dùng: tê giác địa hoàng thang, gia giảm tùy từng trường hợp.
- Thấp nhiệt: Da bệnh sắc đỏ, có loét, bàn chân có mụn mủ, chán ăn, mệt mỏi, chân nặng nề hoặc khí hư sắc vàng lượng nhiều (nữ), rêu vàng nhầy, mạch nhu.
Phép trị: Thanh nhiệt lợi thấp, hoa dinh thông lạc.
Bài thuốc dùng: Tỳ giải thấm thấp thang, gia giảm tùy từng bệnh.
- Huyết hư phong táo: Bệnh ổn định, da khô tróc vẩy, khớp da có nếp nhăn, kèm váng đầu, hoa mắt, sắc mặt tái nhợt, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi mỏng, mạch hư tế.
Phép trị: Dưỡng huyết khư phong nhuận táo
Bài thuốc dùng: Tứ vật thang kết hợp tiêu phong tán, gia giảm tùy bệnh.
- Hỏa độc thịnh: Toàn thân mụn đỏ rải rác, hoặc đỏ thâm nặng sưng phù, cảm giác nóng rát, sốt cao, miệng khát, mụn mủ rải rác, chất lưỡi đỏ thẫm, rêu vàng, mạch huyền sác.
Phép trị: Lương huyết thanh nhiệt giải độc
Bài thuốc dùng: Thanh dinh thang, gia giảm tùy bệnh.
Bên cạnh việc dùng các bài thuốc, bệnh nhân còn được hướng dẫn bôi thuốc ngoài da và nấu lá tắm.
Lưu ý: Vẩy nến là bệnh mãn tính, khó điều trị. Hiệu quả tối đa của điều trị là giảm đến 80% tình trạng bệnh mà không tái phát. Để đảm bảo an toàn, người bệnh nên đến bệnh viện hay các viện y học cổ truyền có uy tín để được khám, bác sỹ điều trị có kê toa rõ ràng.
Phòng bệnh
- Bệnh có liên quan đến stress, vì vậy, nên giữ cho tinh thần thoải mái, tránh lo âu, căng thẳng có thể xảy ra.
- Tránh dùng các loại thuốc có tính kích thích mạnh trong thời gian bệnh phát triển
- Tránh uống rượu, nước ngọt, trà đậm, cà phê, thuốc lá, không ăn các chất cay, nóng, mỡ lợn, hạn chế các món rán, xào.