Bài học kinh nghiệm từ Chính sách dân số của Hàn Quốc

| Nghiên cứu - Trao đổi

GiadinhNet - Nhiều nhà quan sát nhìn nhận những kinh nghiệm của Hàn Quốc trên quan điểm một chương trình KHHGĐ mạnh, cùng với một chương trình phát triển kinh tế xã hội cao là cần thiết trong việc đạt được mức sinh thấp tại các nước đang phát triển.

Chuyển đổi mức sinh ở Hàn Quốc bắt đầu từ những năm đầu thập niên 60 và vào giữa thập niên 80, mức sinh đã đạt dưới mức thay thế.
 
Quá trình chuyển đổi có ít yếu tố giống như kinh nghiệm của các quốc gia phương Tây. Chuyển đổi mức sinh diễn ra cùng với sự hiện diện của phát triển xã hội và được tiến hành đồng thời với những chuyển đổi kinh tế- xã hội trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế, công nghiệp hóa, đô thị hóa, và cải thiện hệ thống giáo dục. 

Mức sinh bắt đầu giảm khi Chính phủ ban hành chính sách kiểm soát sinh. Quá trình chuyển đổi mức sinh ở Hàn Quốc có thể được đánh giá trên nhiều phương diện khác nhau. Nó có thể được xem xét trên phương diện quá độ dân số, trong mối quan hệ tương tác với phát triển xã hội, hay trên phương diện can thiệp nhà nước để thay đổi theo kế hoạch.
 
Trong thời gian đầu thời kỳ thuộc địa, mức chết bắt đầu giảm nhờ triển khai thực hiện các dịch vụ y tế và thuốc men của phương Tây. Tuy nhiên, sự bóc lột thuộc địa tàn nhẫn đã đẩy người lao động và nông dân Hàn Quốc vào cảnh ngày càng cơ cực và sức ép dân số ngày càng tăng. 

Tình hình kinh tế, xã hội, và dân số xấu đi sau giải phóng Hàn Quốc năm 1945 và tiếp theo là cuộc chiến tranh Liên Triều. Những điều kiện và sự kiện này tạo nên tình trạng khẩn cấp về dân số tại Hàn Quốc khi những số dân di tản khổng lồ từ Nhật Bản và Trung Quốc trở về và số người tị nạn trở về từ miền Bắc. 

Trong thời kỳ tuyệt vọng này, tỷ lệ sinh bắt đầu rơi tự do. Lực lượng chủ yếu đằng sau chuyển đổi mức sinh mạnh mẽ này chính là chuyển đổi mức chết trong suốt thời kỳ 40-50 năm trước đó và nguyên nhân chủ yếu là cuộc sống cơ cực của người dân Hàn Quốc trong thời kỳ này.
 
Quá trình chuyển đổi mức sinh luôn song hành cùng công cuộc phát triển kinh tế và xã hội, và thực tế đã chứng minh rằng phát triển kinh tế và hiện đại hoá là những lực lượng đằng sau quá độ dân số tại Hàn Quốc. 

Một điều chắc chắn rằng định hướng xã hội hướng tới giảm mức sinh đã tiến triển tốt tại Hàn Quốc trong quá trình chuyển đổi kinh tế xã hội suốt bốn thập niên. Nhưng câu hỏi về giá trị quan điểm tiếp nhận vẫn còn bỏ ngỏ. 

Chẳng hạn như Hàn Quốc được biết đến là quốc gia hoàn thành chuyển đổi mức sinh mà không có bất cứ cải thiện nào về điều kiện sống hay y tế trong vòng ít nhất 15 năm. Người Hàn Quốc sinh sống tại Trung Quốc cũng đạt được mức sinh dưới mức thay thế vào cuối những năm 70, trước khi diễn ra những phát triển bền vững (Han et al. 1988). 

Cả hai trường hợp này đều nêu lên tầm quan trọng của can thiệp nhà nước trong kiểm soát mức sinh. Nhưng can thiệp của Chính phủ cũng đã thất bại trong kiểm soát mức sinh tại nhiều quốc gia trên thế giới. Nghiên cứu văn hoá của một xã hội dường như là điều kiện tiên quyết để hiểu thấu đáo quá trình chuyển đổi mức sinh của xã hội đó.
 
Nhiều nhà quan sát nhìn nhận những kinh nghiệm của Hàn Quốc trên quan điểm rằng, một chương trình KHHGĐ mạnh, cùng với một chương trình phát triển kinh tế xã hội cao là cần thiết trong việc đạt được mức sinh thấp tại các nước đang phát triển (Berelson 1978).
 
Chương trình KHHGĐ Hàn Quốc phủ khắp toàn quốc, ban đầu tập trung tại các vùng nông thôn và sau đó lan đến các khu vực đô thị nghèo. Sử dụng một phương pháp đa chiều, chương trình nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ giới lãnh đạo và gặp phải rất ít kháng cự từ công chúng.
 
Trái với dự đoán của các cơ quan chức năng, các nhà hoạch định chính sách và hầu hết các nhà dân số học, việc chuyển đổi từ mô hình gia đình lớn sang mô hình gia đình nhỏ diễn ra rất nhanh và không gặp trở ngại gì. 

Sự phản kháng yếu ớt đối với Chương trình chứng tỏ rằng các điều kiện xã hội thuận lợi đã tồn tại trước khi chương trình bắt đầu. Sức ép kinh tế đối với các bậc cha mẹ chính là một nguyên nhân khiến họ chấp nhận các biện pháp tránh thai, bất kể do khả năng kinh tế kém hoặc hy vọng ngày càng lớn của cha mẹ đối với con cái. 

Chiến dịch tuyên truyền vận động rộng khắp và hỗ trợ mạnh mẽ từ giới lãnh đạo có thể là những nguyên nhân khác. Nhưng nhân tố quan trọng nhất trong việc giảm qui mô gia đình mong muốn có lẽ là hệ thống gia đình Hàn Quốc truyền thống, coi trọng các con trai, đặc biệt là con trai cả. 

Bất chấp những lo sợ tác động ngược, vấn đề trọng nam không một chút ngăn cản quá trình giảm mức sinh; hơn nữa nó còn tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi. Ngoài ra, các bậc cha mẹ lớn tuổi phụ thuộc vào con trai cả trong các gia đình Hàn Quốc có xu hướng ủng hộ mô hình gia đình một con trai, điều này phù hợp với mức sinh thấp dưới mức thay thế.
 
Giáo sư xã hội học Tai-Hwan Kwon
Khoa xã hội học, Đại học Quốc gia Seoul
Nguồn: Các chính sách và chương trình dân số ở Đông Á - Tổng cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình
kimvan
Ý kiến của bạn

Qua ứng dụng S-Health, bất ngờ trước những căn bệnh người già gặp phải (kỳ 2): Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi nói riêng trong thời đại công nghệ số 4.0

Qua ứng dụng S-Health, bất ngờ trước những căn bệnh người già gặp phải (kỳ 2): Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi nói riêng trong thời đại công nghệ số 4.0

Dân số và phát triển -

GiadinhNet - Thoái hóa đốt sống lưng tình trạng nặng có thể gây liệt nửa người, nhiều người bệnh rồi mà không biết rèn luyện thể lực, cũng không biết "Ứng dụng chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi (S-Health)" để được nhắc nhở, hướng dẫn, hay cấp cứu kịp thời.

Cho tương lai phát triển bền vững

Cho tương lai phát triển bền vững

Nghiên cứu - Trao đổi -

GiadinhNet - Báo cáo số liệu Thanh niên Thế giới năm 2013 của Văn phòng Tham chiếu Dân số Hoa Kỳ (PRB) cho thấy, trên thế giới hiện nay, thanh niên (nhóm dân số từ 10-24 tuổi) là hơn 1,8 tỷ người, chiếm 25% tổng dân số thế giới.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.