Trước hết, mức sinh giảm trong môi trường kinh tế - xã hội truyền thống và do sức ép nặng nề của dân số. Để có thể tồn tại, rất nhiều cặp vợ chồng cần hạn chế quy mô gia đình, điều này là động lực quan trọng nhất thúc đẩy xã hội Hàn Quốc bước vào thời kỳ chuyển đổi mức sinh.
Tuy nhiên, giữa thập niên 70 kinh tế Hàn Quốc bắt đầu cất cánh cùng với việc thực thi Kế hoạch Kinh tế Xã hội 5 năm lần thứ Nhất vào năm 1962. Mặc dù cuộc sống vẫn rất khó khăn tại các thành phố nhưng người dân đã bắt đầu thấy được những thành quả của tăng trưởng kinh tế và tin tưởng vào tương lai của đất nước.
Di cư từ nông thôn ra thành thị vẫn tiếp diễn, kết quả là vị thế thống trị của dân số nông thôn đã chấm dứt và dân số nông thôn bắt đầu suy giảm toàn diện. Với những thay đổi này, vấn đề tồn tại không còn là yếu tố quan trọng trong việc giảm sinh. Thay vào đó, sự quan tâm của các bậc cha mẹ đến tương lai của con cái mới là lý do chính để hạn chế quy mô gia đình.
Sự thay đổi động lực này xảy ra khi phụ nữ trẻ hơn bước vào độ tuổi sinh đẻ. Thế hệ phụ nữ trước biết về KHHGĐ và các biện pháp tránh thai sau khi lấy chồng hoặc đã có từ hai đến ba con. Còn thế hệ mới được tiếp cận những vấn đề này qua các phương tiện truyền thông đại chúng và đã hình thành được những ý tưởng kiên định về quy mô gia đình mong muốn của bản thân trước khi lập gia đình. Chính vì vậy họ có động lực để thực hành hạn chế quy mô gia đình trước cả khi sinh con.
Đời sống của người dân Hàn Quốc được cải thiện, các giá trị tình cảm của bố mẹ dành cho con cái gia tăng khi giá trị thiết thực bị thu nhỏ lại. Coi con cái là tài sản vô giá của mình, hầu hết các bậc cha mẹ đều cố gắng dành cho con những gì tốt đẹp nhất, bao gồm cả mức giáo dục cao nhất trong khả năng của họ. Suy nghĩ này đã ăn sâu trong hệ giá trị truyền thống Hàn Quốc, và vì thế số con ít hơn chưa chắc đã làm giảm mà còn gia tăng gánh nặng kinh tế trên vai các bậc cha mẹ (Kwon 1993,48-49).
Giữa thập niên 80, xã hội Hàn Quốc bắt đầu chuyển đổi mạnh hơn. Chính phủ ban hành một loạt biện pháp phúc lợi xã hội và các mô hình sống mới bắt đầu. Hệ thống bảo hiểm y tế được triển khai thực hiện với quy mô dân số khá hạn chế và được từng bước mở rộng, đến năm 1990 thì áp dụng cho toàn dân. Trong suốt thập niên 80, hệ thống lương hưu được áp dụng cho toàn bộ khu vực công.
Phong trào lao động ngày một sôi động góp phần cải thiện mức sống của người lao động. Tỷ lệ học sinh nữ tại các trường trung học tăng từ 30% năm 1970 lên 97% vào năm 1990, báo hiệu sự cải thiện quan trọng trong giáo dục trong nữ giới. Lực lượng lao động nữ ở độ tuổi 20 bắt đầu bùng nổ vào những năm giữa thập niên 80. Sở hữu ô tô tư nhân tăng gấp đôi trong những năm đầu và gần gấp ba trong những năm cuối của thập niên 80.
Với xu thế này, thái độ làm việc cũng thay đổi. Theo kết quả của nhiều cuộc điều tra khảo sát, vào đầu thập niên 80, người dân Hàn Quốc hăm hở làm thêm giờ để kiếm tiền. Nhưng đến giữa thập niên, mong muốn được nghỉ ngơi thư giãn đã bắt đầu thế chỗ cho những công việc vất vả mà có thu nhập cao.
Đối với những gia đình bình dân việc sở hữu ô tô, tham gia các hoạt động bên ngoài và du lịch trở nên phổ biến, và dần dà xe ô tô được thế hệ trẻ coi như một nhu cầu thiết yếu. Khái niệm “mỗi gia đình có một xe ô tô” gắn chặt, không thể tách rời ý tưởng gia đình có từ một đến hai con.
Còn tiếp
Giáo sư xã hội học Tai-Hwan Kwon
Khoa xã hội học, Đại học Quốc gia Seoul
Nguồn: Các chính sách và chương trình dân số ở Đông Á - Tổng cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình