Công dụng tuyệt vời của hạt dẻ bạn nên biết

| Sống khỏe

GiadinhNet - Ngoài việc dùng làm thực phẩm để ăn, nhất là món hạt dẻ nướng nóng hổi trong mùa lạnh, loại hạt này còn là vị thuốc quý dùng để chữa nhiều loại bệnh.

Bổ thận, tốt cho tim mạch, ngừa nguy cơ ung thư

Hạt dẻ còn gọi là sơn hạch đào là hạt của cây dẻ có tên khoa học là Castanea Mollissima, thuộc họ sồi dẻ (Fagaceae). Thành phần chủ yếu của hạt dẻ gồm có tinh bột, protein, lipit, các vitamin B1, B2, C và các khoáng chất.

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, trong tất cả các loại hạt, chỉ duy nhất hạt dẻ có chứa vitamin C. Các loại hạt dẻ khô chứa lượng vitamin khá cao. Bên cạnh đó, với thành phần giàu tinh bột nên loại hạt này có khả năng cung cấp nhiều năng lượng cho cơ thể.


Hạt dẻ vừa là thực phẩm thơm ngon vừa là vị thuốc quý dùng để chữa bệnh

Hạt dẻ vừa là thực phẩm thơm ngon vừa là vị thuốc quý dùng để chữa bệnh

Nhờ thành phần dinh dưỡng cao mà hạt dẻ đem lại rất nhiều tác dụng tốt cho sức khỏe. Các nghiên cứu đã chứng minh, hạt dẻ có tác dụng trong việc bảo vệ tim mạch. Loại axit béo thuộc họ Omega-3 trong hạt dẻ có tác dụng giúp kháng viêm và bảo vệ tim. Ngoài ra, chất phytosterol được coi là chất giúp giảm sự hấp thu cholesterol vào trong máu.

Hạt dẻ còn có thể được coi là một loại “vũ khí” giúp ngăn ngừa bệnh tiểu đường. Những chế phẩm từ hạt dẻ không những an toàn mà còn tốt cho người huyết áp cao, bệnh nhân đã được thay van tim nhân tạo và những người mắc bệnh tiểu đường.

Ngoài các loại vitamin phổ biến, hạt dẻ còn chứa nhiều loại khoáng chất có tác dụng tăng cường sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật rất hữu ích. Hạt dẻ có chứa hàm lượng mangan cao. Mangan là một trong các chất chống oxy hóa và làm giảm nguy cơ ung thư, bệnh tim.

Theo Trung tâm Y tế Maryland (Mỹ), mangan cũng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình lão hóa. Một khẩu phần ăn gần 100 gam hạt dẻ chỉ chứa hơn 1 microgram mangan nhưng chiếm tới 50% lượng mangan được khuyến cáo cho cơ thể mỗi ngày. Mangan cũng giúp sản xuất liên kết mô và đông máu.

Còn theo Đông y, hạt dẻ có vị ngọt, tính ấm đi vào 3 kinh tỳ, vị và thận. Có công năng bổ thận ích tinh, làm mạnh gân cốt, tăng cường chức năng tiêu hóa, nuôi dưỡng dạ dày, cầm máu, chữa trị tiêu chảy do tỳ, vị hư hàn hay lưng gối do thận hư…

Ngoài tác dụng bổ dương, cải thiện chức năng sinh dục ở nam giới, hạt dẻ là thức ăn có lợi cho tim mạch, tiểu đường, huyết áp. Vì vậy trong Đông y có câu: Mùa đông ăn hạt dẻ tốt hơn uống thuốc bổ thận.

Vị thuốc quý trong các bài thuốc dân gian

Trong dân gian cũng có nhiều bài thuốc sử dụng hạt dẻ như một cách để bồi bổ cơ thể sau khi ốm, mất ngủ, viêm phế quản, đau dạ dày hoặc để trừ giun sán.

Bổ thận, mạnh gân cốt: Dùng hạt dẻ, gạo tẻ nấu thành cháo, cho thêm đường trắng, ăn mỗi ngày một lần.

Chữa suy nhược cơ thể, tay chân đau nhức, yếu mệt: Dùng hạt dẻ khô khoảng 30 gram đem nấu chín với nước, cho thêm đường đỏ, ăn một lần trước lúc ngủ.

Trị chứng thận hư, đau nhức xương khớp ở người già: Dùng 30 gram hạt dẻ tươi nướng hoặc hấp chín, ăn hai lần vào buổi sáng và tối.

Trị hen suyễn, thận và khí hư ở người già: Dùng 60 gram hạt dẻ tươi, thịt lợn nạc vừa đủ, 2 - 3 lát gừng tươi, hầm ăn mỗi ngày một lần.

Trị viêm miệng - lưỡi, viêm âm nang do thiếu vitamin B2: Hạt dẻ rang chín, mỗi ngày ăn hai lần, mỗi lần 5 - 7 hạt.

Trị tiêu chảy do tỳ vị hư hàn: Dùng 30 gram hạt dẻ, 12 gram phục linh, 10 quả táo, 60 gram gạo tẻ, rửa sạch nấu thành cháo. Khi ăn, cho thêm đường trắng.

Những lưu ý khi ăn hạt dẻ

Mặc dù hạt dẻ ngon và bổ nhưng nếu ăn thường xuyên sẽ gây đầy bụng, khó tiêu. Thành phần của hạt dẻ hầu như không có chất xơ, nên ăn nhiều sẽ gây táo bón. Những người tiêu hoá kém không nên ăn hạt dẻ nhiều dễ làm tổn thương tỳ vị.

Người bị bệnh dạ dày nên hạn chế ăn hạt dẻ vì sẽ sản sinh nhiều axit dạ dày, tăng thêm gánh nặng cho dạ dày, người bị nặng sẽ dẫn đến xuất huyết dạ dày. Người bị cảm chưa khỏi, bệnh nhân mắc chứng sốt rét, kiết lỵ, phụ nữ sau khi sinh không nên ăn nhiều hạt dẻ. Mỗi ngày không nên ăn quá 10 hạt dẻ to để tránh bị táo bón.

Khi ăn hạt dẻ cũng cần chú ý không ăn các loại hạt đã có dấu hiệu mốc hỏng. Khi bóc hạt dẻ nếu thấy màu sắc bên trong thay đổi thì cần phải bỏ ngay.

Trước khi rang hay chế biến món ăn từ hạt dẻ nên lưu ý cần rửa sạch hạt dẻ hoặc bóc vỏ. Không nên rang hạt dẻ đến mức cháy khét vì sẽ làm giảm đi hàm lượng dưỡng chất trong hạt dẻ. Để bảo quản hạt dẻ được tốt nên để chỗ thoáng mát, sạch sẽ, phòng mối mọt.

Linh Chi (th)/Báo Gia đình & xã hội

Bình luận (0)
Ý kiến của bạn
Tags:

Cùng chuyên mục

Những chiến binh áo trắng lặng thầm xoa dịu vết thương chiến tranh

Những chiến binh áo trắng lặng thầm xoa dịu vết thương chiến tranh

Sống khỏe -

GĐXH - Không phải chỉ những ai từng đi qua chiến trường, trực tiếp đối diện với giây phút sinh tử mới cảm nhận được sự ác liệt và nỗi đau mà chiến tranh gây ra. Từ sự thấu hiểu và lòng tri ân, các y, bác sĩ ở Trung tâm Điều dưỡng Thương binh Thuận Thành (Bắc Ninh) đã lựa chọn dành cuộc đời mình để xoa dịu vết thương chiến tranh cho những người lính trở về.

Mang thai ăn chay: Người lo thiếu chất, người khẳng định vẫn đủ dinh dưỡng, bác sĩ nói gì?

Mang thai ăn chay: Người lo thiếu chất, người khẳng định vẫn đủ dinh dưỡng, bác sĩ nói gì?

Mẹ và bé -

GĐXH - Người cho rằng mang thai ăn chay dễ thiếu chất, người lại khẳng định chỉ cần ăn uống đa dạng vẫn đủ dinh dưỡng cho cả mẹ và bé. Vậy phụ nữ mang thai có thể duy trì chế độ ăn chay hay không? TS.BS Huỳnh Nam Phương, Viện Dinh dưỡng, chỉ ra những dưỡng chất mẹ bầu cần đặc biệt lưu ý.

Mỡ lợn có thực sự tốt? Ăn bao nhiêu mỗi ngày để không gây hại tim mạch?

Mỡ lợn có thực sự tốt? Ăn bao nhiêu mỗi ngày để không gây hại tim mạch?

Sống khỏe -

GĐXH - Mỡ lợn từng là nguyên liệu quen thuộc trong căn bếp của nhiều gia đình, nhưng cũng là thực phẩm gây tranh luận vì chứa nhiều chất béo bão hòa. Theo ThS.BS Nguyễn Vũ Bình, người khỏe mạnh không nhất thiết phải loại bỏ hoàn toàn mỡ lợn, song cần kiểm soát lượng sử dụng và ưu tiên cân đối với các nguồn chất béo khác.

Trẻ thường xuyên ngủ cùng mẹ và ngủ với người chăm sóc khác có gì khác biệt?

Trẻ thường xuyên ngủ cùng mẹ và ngủ với người chăm sóc khác có gì khác biệt?

Mẹ và bé -

GĐXH - Sau khi chào đời, trẻ cần được chăm sóc, vỗ về và đáp ứng nhu cầu cơ bản một cách ổn định. Vì điều kiện công việc hay sức khỏe, không phải em bé nào cũng được mẹ trực tiếp chăm sóc vào ban đêm. Nhiều cha mẹ thắc mắc liệu việc trẻ ngủ cùng mẹ và ngủ với người chăm sóc khác có tạo ra sự khác biệt lớn trong quá trình phát triển?

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.