Thực trạng sử dụng biện pháp tránh thai ở nhóm đối tượng đặc thù sinh con dị tật, dị dạng tại 4 tỉnh
Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em cho phép tiến hành ''Khảo sát, đánh giá tình hình sử dụng biện pháp tránh thai ở nhóm đối tượng đặc thù sinh con dị tật, dị dạng tại 4 tỉnh: Hải Dương, Quảng Nam, Đồng Nai và Cần Thơ'.
I. Đặt vấn đề
Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010 đặc biệt quan tâm đến chất lượng dân số, cũng như vấn đề giảm tỷ lệ sinh con khuyết tật. Ở Việt Nam, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan vẫn còn một số lượng không nhỏ các cặp vợ chồng sinh con dị tật, dị dạng trước 1975 ở miền Bắc, và sau giải phóng miền nam trong phạm vi cả nước. Mắc HIV/AIDS năm 1990 mới phát hiện có 01 trường hợp đến năm 2003 đã có hàng trăm nghìn trường hợp, trải khắp cả 64 tỉnh, thành trong cả nước. Số trẻ em dị tật, dị dạng hoặc nhiễm vi rút HIV được sinh ra ngày càng tăng đã để lại nỗi đau nhức nhối cho gia đình và xã hội, tạo gánh nặng phúc lợi công cộng, đồng thời ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng dân số. Việc sinh con dị tật, dị dạng ở Việt Nam do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân bị ảnh hưởng của chất độc hoá học, đặc biệt chất độc hoá học màu da cam do Mỹ rải xuống miền Nam nước ta trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là nguy cơ nặng nề nhất với dân tộc Việt Nam nói chung và đối với đối tượng đặc thù nói riêng. Hậu quả của nó kéo dài nhiều thế hệ. Đây là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dân số Việt Nam.
Trước thực trạng đó, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em cho phép tiến hành ''Khảo sát, đánh giá tình hình sử dụng biện pháp tránh thai ở nhóm đối tượng đặc thù sinh con dị tật, dị dạng tại 4 tỉnh: Hải Dương, Quảng Nam, Đồng Nai và Cần Thơ''. Khảo sát, đánh giá này được triển khai tại 12 huyện, 60 xã của 4 tỉnh nói trên với 712 cặp vợ chồng sinh con dị tật, dị dạng và 100 cán bộ quản lý công tác Dân số, Gia đình và Trẻ em, cán bộ các ban ngành có liên quan như; Y tế, Hội liên hiệp phụ nữ, ngành lao động - thương binh và xã hội, Hội nông dân…; khảo sảt được tiến hành từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2003.
II. Một số đặc điểm chung của nhóm đối tượng đặc thù sinh con dị tật, dị dạng qua khảo sát
1.1. Độ tuổi của các cặp vợ chồng sinh con dị tật, dị dạng ở 4 tỉnh cho thấy, số cặp vợ chồng từ 40 tuổi trở lên có con dị tật, dị dạng cao. Khảo sát 175 trường hợp ở tỉnh Quảng Nam, tuổi đời bình quân là 39,3. Đây là những người đã từng sống, chiến đấu, làm việc trong khu vực Mỹ rải chất độc hoá học.
1.2. Về giới tính và sức khoẻ: Trong số 712 người thay mặt cho gia đình tham gia trả lời các câu hỏi thì có 153 nam, chiếm 21,4% và 559 nữ, chiếm 78,6%. Các cặp vợ chồng sinh con dị dạng phần lớn sức khoẻ bình thường (chiếm 92,1%), chỉ có gần 8% chồng hoặc vợ của các cặp được khảo sát có dị tật.
1.3. Tình trạng hôn nhân: Tình trạng hôn nhân đầy đủ chiếm vị trí cao nhất, 87,2% (người bình thường 93,9%), li thân chiếm 1,9% (người bình thường 0,7%); li dị chiếm 3,6% (người bình thường 1,7%); goá chiếm 3,8% (người bình thường chỉ chiếm 1,7%). Đặc biệt có 3,6% chưa từng kết hôn nhưng đã có con dị dạng.
1.4. Về số con: Gia đình có 1 con chiếm tỷ lệ thấp nhất 14,9%; gia đình có 2 con chiếm 33,3% và 3 con chiếm 21,4%, trên 3 con chiếm 30,4%. Như vậy, gia đình có từ 3 con trở lên vẫn còn chiếm số đông.
1.5. Về mức sống: Có 41,3% gia đình cho rằng mức sống của gia đình mình hiện nay thuộc loại bình thường, đủ ăn, hơn 12% thuộc loại khá, còn lại là gia đình có mức sống khó khăn, nghèo chiếm tỷ lệ cao (34,1%) và rất nghèo khổ chiếm 10,6%.
Trong số 712 người được hỏi có 706 đối tượng trả lời về vấn đề mang thai và sức khoẻ của thai nhi. Kết quả cho thấy, ngay từ lần mang thai 1, lần 2, lần 3, lần 4... đã có tỷ lệ nạo, hút thai song giảm dần (1,5% và 1,2%; 1,2%). Hiện tượng nạo phá thai của đối tượng đặc thù ở các tỉnh điều tra đều cao hơn mức chung của toàn quốc (mức toàn quốc là 1,08%), con số này ở nông thôn là 1,05%)[1]. Sảy thai giảm dần theo lần mang thai (lần 1: 3,4%; lần 2: 3,2%; Lần 3: 1,7%; lần 4: 1,7% và lần 5: 0,6%).
Tổng số trẻ em được sinh ra của 712 đối tượng khảo sát là 1.865 cháu. Như vậy, số con bình quân trên một phụ nữ là 2,6 trẻ (con số chung của cả nước trên một phụ nữ là 2,28). Số con sinh ra bị dị tật, dị dạng là 727 cháu, chiếm 38,98% tổng số cháu là con của các đối tượng đặc thù được khảo sát sinh ra.
Sau khi sinh con dị tật, dị dạng chỉ có 45,0% số người dự định không sinh con nữa, và 50,0% tiếp tục sinh con, có 5% đối tượng sinh con dị tật, dị dạng lưỡng lự. Như vậy, số người mong muốn sinh thêm con vẫn còn nhiều - trên 50,0%.
III. Thực trạng sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT) của các cặp vợ chồng sinh con dị tật, dị dạng
1.1. Nhóm đối tượng đặc thù biết các biện pháp tránh thai vượt trội, chiếm tỷ lệ khá cao (97,6%). Đây là cơ sở rất tốt cho việc thực hiện KHHGĐ. Cần Thơ là tỉnh có 100,0% số người được hỏi trả lời biết các biện pháp tránh thai. Tỷ lệ người trả lời nói không biết ở các tỉnh cao nhất là Quảng Nam (4%); Đồng Nai (3,3%) và Hải Dương (2,2%).
Nhóm tuổi 30 - 39 có 250 người/252 người biết các biện pháp tránh thai, chiếm 99,2%, tiếp theo là nhóm 40 - 49 chiếm 90,7%.
1.2. Trạm y tế xã và cộng tác viên dân số là hai nguồn cung cấp chủ yếu các phương tiện tránh thai cho các đối tượng được điều tra. Điều này phù hợp với nhận định của cuộc điều tra đánh giá biến động dân số.
Các nguồn thông tin giúp cho nhiều người tiếp nhận được về KHHGĐ là cán bộ dân số xã (81,9%); cán bộ y tế xã (81,0%) sau đó đến các phương tiện truyền thông (62,4%); Hội Liên hiệp Phụ nữ (61,4%).
Hiện tại cả nước có 76,9% số người trong độ tuổi sinh đẻ đang sử dụng biện pháp tránh thai. Điều tra ở bốn tỉnh cho thấy, đối tượng này có số người sử dụng biện pháp tránh thai là 64,3%, thấp hơn toàn quốc.
Các đối tượng sử dụng biện pháp đặt vòng tránh thai cao nhất: Cần Thơ (73,2%); Hải Dương 11,2%; Đồng Nai 44,6% và Quảng Nam 57,6%. Thuốc viên tránh thai: Cần Thơ 10,9%; Hải Dương 53,6%; Đồng Nai 12,2% và Quảng Nam là: 6,4%. Số người dùng bao cao su ở ba tỉnh Đồng Nai, Hải Dương và Cần Thơ theo tỷ lệ là: 24,0%; 11,5% và 23,2%.
Như vậy, đối với nhóm đối tượng đặc thù sinh con dị dạng hiện nay đang sử dụng nhiều nhất là dụng cụ tử cung, thuốc viên tránh thai và bao cao su.
Lí do các đối tượng không sử dụng các biện pháp tránh thai là: “Muốn sinh thêm con” (20,1%), “Không biết cách sử dụng” chiếm 17,7%. Số người có ý định sử dụng biện pháp tránh thai khác trên 30 người, trong khi đó số người có ý định không sử dụng biện pháp tránh thai khác cao nhất là 181 trường hợp của cùng nhóm tuổi 30 - 39.
Cấp phát phương tiện tránh thai miễn phí: 44,1%
Tư vấn về sử dụng biện pháp tránh thai: 42,3%
Thăm khám và theo dõi: 12,7%; khác: 0,9%
Công tác cấp phát và tư vấn phương tiện tránh thai chiếm vị trí cao ở tất cả các nhóm tuổi.
Xem xét vấn đề miễn phí và không miễn phí theo khảo sát thu được ở các tỉnh cho thấy: Đồng Nai có tỷ lệ không thu tiền rất cao ( 99,3%); Cần Thơ chiếm 92,8%; ở Hải Dương phản ánh 51,1% có thu tiền. Trả lời câu hỏi chi phí để sử dụng biện pháp tránh thai hiện nay thế nào? cho thấy: có 0,5% cho rằng quá cao; 28,1% cho rằng bình thường và 71,5% trả lời không biết. Thực tế điều tra cho thấy: các loại phương tiện tránh thai được cấp phát miễn phí hay phải trả tiền, các đối tượng vẫn chưa biết rõ.
1.1. Về nhóm đối trượng đặc thù
- Đối tượng chủ yếu ở nhóm đối tượng dưới 39 tuổi là 64,5%, trong đó nhóm 21 – 29 tuổi chiếm 16,2%.
- Tỷ lệ đã có 1 - 3 con sống là 69,6% trong đó 48,2% đã có 1 - 2 con sống. Đặc biệt là 30,4% đã có từ 3 - 9 con sống.
- Tỷ lệ đối tượng có hoàn cảnh kinh tế nghèo và rất nghèo chiếm 45,2% (32,3% còn ở nhà tranh tre; 20% sử dụng nước ao, hồ).
- 87,2% đối tượng hai bên nội ngoại không có di truyền, dị tật bẩm sinh.
- Tỷ lệ sơ sinh bị dị tật, dị dạng sau các lần sinh không có quy luật, nhưng tỷ lệ cao: từ 31,8% đến 43,6%
- Tỷ lệ có thai sinh đẻ bình thường sau các lần sinh từ 90 – 96%. Tỷ lệ xảy thai, đẻ non, thai chết lưu… trong các lần có thai từ 5 –10%.
- Sau các lần sinh con dị tật, dị dạng, có 45% không muốn sinh thêm con. Nhưng còn 55% muốn tiếp tục sinh con hoặc còn lưỡng lự.
- Lý do muốn sinh thêm con cao nhất là để hy vọng có đứa con lành: 68 - 73%; tiếp theo là muốn có đủ con trai, con gái để đề phòng rủi ro…
1.3. “Chương trình chăm sóc phụ nữ có thai và kế hoạch hoá gia đình” đã tác động trực tiếp đến công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ trẻ em và phụ nữ. Năm 2002 tỷ lệ phụ nữ khi sinh đẻ được cán bộ y tế chăm sóc đạt 93,8%”[2]. Đối với phụ nữ của nhóm đối tượng đặc thù, vấn đề sức khoẻ đang được đặt ra. Tỷ lệ nạo hút thai, sảy thai, đẻ non, thai chết lưu mỗi lần mang thai còn rất cao. Đặc điểm phụ nữ của các đối tượng này sinh nhiều lần, có người đã trải qua 9 lần sinh. Đặc biệt khi sinh con bị khuyết tật lại càng đau buồn và tổn hại đến sức khoẻ. Yếu tố sức khoẻ đã tác động thay đổi các quyết định, thực hiện KHHGĐ.
1.4. Kiến thức và nguồn cung cấp thông tin về BPTT
- Có 97,6% đối tượng biết đến các BPTT, trong đó có 82,3% biết biện pháp đặt vòng tránh thai; 58,6% biết biện pháp triệt sản; 87% biết về thuốc uống; 23,1% biết về thuốc tiêm, thuốc cấy; 71,2% biết về bao cao su.
- Nguồn cung cấp thông tin về BPTT cho đối tượng cao nhất là do cán bộ dân số và cán bộ y tế xã 84,9%; tiếp theo là Hội Liên hiệp phụ nữ và phương tiện truyền thông 61 - 62,4%.
- Có 66,4% đối tượng đang sử dụng BPTT, trong đó cao nhất là ở Đồng Nai và Cần Thơ, thấp nhất ở Quảng Nam.
- Tỷ lệ sử dụng các BPTT cao nhất là đặt vòng 47,2%; thuốc viên 20,1%; bao cao su 14,1%; triệt sản 10,6%.
- Sử dụng BPTT sau lần sinh thứ nhất là 74,8%; sau lần sinh thứ hai là 68,0%; nhưng sau lần sinh thứ ba thì tỷ lệ này chỉ chiếm 43,9%.
1. Sinh những đứa con dị tật, dị dạng là một nỗi thất vọng lớn đối với các cặp vợ chồng song họ hy vọng “còn nước, còn tát” nên càng cố sinh thêm để có con bình thường. Kết quả điều tra cho thấy các cặp vợ chồng dưới 39 tuổi có 1 - 3 con chiếm 64,5 - 69,6%, có hoàn cảnh kinh tế nghèo và rất nghèo. Vì vậy, đề nghị Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em có chính sách riêng cho đối tượng đặc thù, hỗ trợ vật chất để đối tượng đặc thù thực hiện các BPTT lâu dài, hạn chế số trường hợp sinh con dị tật, dị dạng tiếp theo.
2. Tỷ lệ sử dụng BPTT ở nhóm đối tượng đặc thù mới đạt 66,4% trong cơ cấu sử dụng BPTT. Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai tạm thời như đặt vòng, thuốc tránh thai, bao cao su chiếm 81,4%; tỷ lệ sử dụng triệt sản chiếm 10,6%. Do đó, truyền thông là một yếu tố tác động rất mạnh và trở thành những động lực mạnh mẽ thúc đẩy con người hành động. Đối với các đối tượng đặc thù, nội dung và phương tiện truyền thông cần phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện sống của họ để đưa thông tin đến mọi người, mọi nhà, giúp họ thay đổi hành vi.
Đề nghị Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em phối hợp tăng cường truyền thông vận động và cung cấp biện pháp triệt sản. Đồng thời nghiên cứu triển khai dự án sàng lọc sơ sinh cho đối tượng đặc thù nhằm chủ động và tự nguyện loại bỏ những thai nhi phát hiện dị tật, dị dạng từ trong bào thai, góp phần nâng cao chất lượng dân số.
Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em cần phối hợp với các ngành hữu quan nghiên cứu chỉ đạo điều tra khảo sát và thu thập thông tin chuyên ngành để có tư liệu tổng thể xây dựng chiến lược tăng cường cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ với nhóm đối tượng đặc thù để chủ động giải quyết vấn đề trẻ em dị tật, dị dạng và có giải pháp phù hợp với chính sách.
[1]Điều tra biến động dân số và KHHGĐ, NXB. Thống kế 2003,tr.69.
[2]Báo cáo phục vụ Hôi nghị giữa kỳ Ban chấp hành TW Đảng khoá IX
3 lý do để thuốc tránh thai hàng ngày là biện pháp ngừa thai yêu thích của nhiều cô nàng
Dân số và phát triển - 18 giờ trướcNếu bạn vẫn còn băn khoăn giữa muôn vàn biện pháp ngừa thai, hãy cùng khám phá một lựa chọn đang được nhiều bạn gái tin dùng và yêu thích nhờ 3 lý do sau đây tại bài viết này nhé!
Đau bụng 10 ngày tưởng rối loạn tiêu hóa, người phụ nữ 43 tuổi phải cắt buồng trứng
Dân số và phát triển - 18 giờ trướcGĐXH - Khối áp xe phần phụ lớn vùng chậu chèn ép niệu quản trái, gây nhiễm trùng nặng. Bác sĩ buộc phải cắt buồng trứng và vòi trứng trái để loại bỏ ổ bệnh.
Dân số châu Á - Thái Bình Dương: Người trẻ ngày càng sinh ít con hơn, châu Á đang thay đổi theo cách chưa từng có
Dân số và phát triển - 21 giờ trướcGĐXH - Dân số châu Á - Thái Bình Dương đã đạt hơn 4,8 tỷ người nhưng tốc độ tăng đang chậm lại rõ rệt. Việt Nam chính thức vượt mốc 100 triệu dân song cũng bước vào giai đoạn mức sinh thấp và già hóa dân số nhanh hơn dự báo.
Người phụ nữ 25 tuổi mắc hội chứng buồng trứng đa nang vẫn sinh con khỏe mạnh nhờ làm điều này
Dân số và phát triển - 1 ngày trướcGĐXH - Mắc hội chứng buồng trứng đa nang, tiền tiểu đường, tăng men gan và tăng huyết áp, người phụ nữ 25 tuổi đã mang thai và sinh con khỏe mạnh nhờ được kiểm soát bệnh lý nền trước IVF.
4 việc nên làm buổi tối để ngủ sâu, ít thức giấc giữa đêm
Dân số và phát triển - 3 ngày trướcMệt mỏi cả ngày nhưng đêm đến vẫn trằn trọc, tâm trí luôn suy nghĩ miên man khó ngủ hoặc liên tục thức giấc giữa đêm là tình trạng nhiều người gặp phải. Tuy nhiên, khi thực hiện những thay đổi đơn giản trong lối sống có thể giúp cơ thể thư giãn, ngủ sâu hơn.
Khai trương cơ sở chăm sóc sức khỏe ban ngày cho người cao tuổi đầu tiên tại Hà Nội
Dân số và phát triển - 3 ngày trướcNgày 6/6, phường Long Biên (thành phố Hà Nội) đã tổ chức khai trương Cơ sở chăm sóc sức khỏe ban ngày cho người cao tuổi.
3 cách giảm mỡ bụng an toàn cho chị em tuổi tiền mãn kinh
Dân số và phát triển - 4 ngày trướcBước vào độ tuổi trung niên, nhiều phụ nữ đối mặt với một nghịch lý: dù chế độ ăn uống không thay đổi, thậm chí có phần kiêng khem hơn trước nhưng vẫn tăng cân và mỡ bụng nhiều hơn.
5 thói quen giúp nam giới duy trì nồng độ testosterone sau tuổi 30
Dân số và phát triển - 5 ngày trướcNồng độ testosterone thường đạt đỉnh ở độ tuổi 20, sau đó, mức độ testosterone sẽ giảm dần. Thông thường, sau tuổi 30 - 40, mức testosterone sẽ giảm khoảng 1% mỗi năm.
Tưởng rong kinh, người phụ nữ suýt mất mạng vì vỡ thai ngoài tử cung
Dân số và phát triển - 6 ngày trướcGĐXH - Ra máu âm đạo kéo dài nhiều ngày nhưng không đi khám, người phụ nữ 33 tuổi suýt mất mạng vì thai ngoài tử cung vỡ, gây mất gần 3 lít máu trong ổ bụng.
12 dấu hiệu giúp chị em nhận biết mình đang rụng trứng
Dân số và phát triển - 1 tuần trướcNhận biết thời điểm rụng trứng giúp chị em chủ động thụ thai hoặc ngừa thai. Cơ thể sẽ luôn phát ra một số tín hiệu nhất định, chỉ cần tinh ý chị em sẽ nhận ra thời điểm này sắp đến.
Giao lưu trực tuyến: Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên và tầm quan trọng của tư vấn khám sức khỏe trước khi kết hôn
Dân số và phát triểnGĐXH - Theo các chuyên gia, sức khỏe sinh sản của vị thành niên, thanh niên được coi là một trong những yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực và tương lai của giống nòi.