|
Vợ chồng anh Thêm, chị Xuyến và những đứa con. |
Xã Ea Tân có 2.387 hộ gia đình nhưng có hơn 60% hộ là đồng bào dân tộc thiểu số di cư từ phía Bắc vào, chủ yếu là dân tộc Tày. Trình độ dân trí thấp, quan niệm “trời sinh voi, trời ắt sinh cỏ”, “sinh con trai để nối dõi tông đường” còn tồn tại trong suy nghĩ của người dân.
Mỗi cặp vợ chồng sau khi cưới nhau sinh 4 hoặc 5 người con là chuyện hết sức bình thường, thậm chí có những cặp sinh đến 7 hoặc 8 người con. Do đó, tỷ lệ trẻ em sinh ra là con thứ 3 trở lên của xã hàng năm đều trên 18%.
Anh Hoàng Văn Thêm và chị Ma Thị Xuyến người dân tộc Tày ở thôn Ea Blông cưới nhau năm 1995. Anh Thêm là con trai cả trong gia đình, theo quan niệm, anh phải có con trai để sau này nỗi dõi tông đường và thờ phụng tổ tiên. Áp lực sinh con trai đã gắn liền với cuộc sống vợ chồng anh Thêm từ lúc cưới nhau đến nay.
Suốt 16 năm chung sống, 6 đứa con lần lượt ra đời, nhưng chừng ấy vẫn chưa đủ vì cả 6 đều là con gái. Đến năm 2011, qua nhiều lần “năn nỉ” của người vợ, được sự “đồng tình” của chồng, họ đã có đứa con thứ 7 - đó là cậu con trai, một quý tử của gia đình.
Tuy nhiên, việc tiếp tục sinh thêm con vẫn còn cơ sở vì hiện tại, anh Thêm, chị Xuyến chưa áp dụng biện pháp tránh thai. Con cái của anh Thêm ngày một “giàu lên”, nhưng kinh tế thì ngày càng đi xuống. Nhà có 10 nhân khẩu (kể cả người mẹ già), nhưng lao động chính chỉ một mình anh Thêm. Còn chị Xuyến, do sinh đông và sinh dày nên suốt ngày bận bịu với việc chăm sóc con nhỏ, sức khỏe suy giảm nhanh chóng.
Thu nhập chính của gia đình là từ hơn 1 ha cà phê, anh Thêm còn phải đi làm thuê, làm mướn để tăng thu nhập. Việc trang trải cuộc sống hàng ngày đã rất khó khăn, nên chăm lo cho các con đang tuổi ăn, tuổi học trở thành thách thức lớn đối với vợ chồng anh Thêm.
Để cán bộ dân số vận động đối tượng là người đồng bào dân tộc thiểu số ở xã Ea Tân áp dụng biện pháp tránh thai rất khó khăn. Bởi nhiều người còn “thèm” con trai để nỗi dõi.
Như gia đình anh Lý Văn Tuyến và chị Ma Thị Nhẩu đã có với nhau 8 đứa con. Sinh đông con nên cái đói, cái nghèo luôn theo họ như hình với bóng. Con cái của anh chị gầy ốm và xanh xao do bữa đói, bữa no. Chuyện học hành, tương lai của những đứa trẻ này sẽ thế nào đến bố mẹ chúng cũng không giám trả lời.
Nhưng anh Tuyến vẫn chưa muốn dừng lại. Anh Tuyến cho biết: “đông con thì khổ thật, nhưng vợ chồng mình vẫn cố sinh được thằng cu để sau này nỗi dõi, ra đường sẽ không bị người ta trêu chọc, coi thường”.
Từ những suy nghĩ như anh Tuyến nên áp lực phải sinh bằng được con trai vẫn còn đè nặng lên nhiều gia đình ở xã Ea Tân. Trong đó, người vợ là người phải chịu đựng nhiều nhất bởi mỗi lần sinh là mỗi lần sức khỏe giảm xuống. Hậu quả của tình trạng này là nhiều gia đình lâm vào cảnh nghèo túng, con cái không được ăn học đến nơi, đến chốn; đời sống của nhiều vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hạnh phúc gia đình không đảm bảo…
Hiện nay, xã Ea Tân còn 130 hộ nghèo, phần đa đều rơi vào những gia đình sinh đông con; tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng chiếm 23%…Tình trạng gia tăng dân số, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của xã Ea Tân luôn đứng đầu huyện Krông Năng.
Theo thống kê của Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện, trong trong năm 2011, tỷ lệ gia tăng dân số ở xã Ea Tân là 1,39%(cao hơn mức bình quân của huyện Krông Năng 0, 08%), trong 2 năm 2010 và 2011, xã Ea Tân có đến 54 trẻ em sinh ra là con thứ ba trở lên, chiếm tỷ lệ trên 18% trẻ em được sinh ra…
Làm sao để thay đổi quan niệm thích sinh đông con và phải có bằng được con trai của người đồng bào dân tộc thiểu số đang là những câu hỏi không dễ trả lời đối với các ngành chức năng ở xã Ea Tân. Đòi hỏi công tác truyền thông dân số phải thường xuyên và liên tục. Nội dung và hình thức tuyên truyền phù hợp với phong tục tập quán của người dân.
Trong đó, cần tập trung chủ yếu vào việc tuyên truyền chính sách “mỗi gia đình chỉ sinh 1 hoặc 2 con”, tuyên truyền Luật bình đẳng giới; gắn liền phong trào xây dựng gia đình văn hóa với thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
V.T