Cần sự hỗ trợ tích cực hơn
Giadinh.net - Sau 1 năm sáp nhập, dù còn nhiều khó khăn nhưng công tác DS-KHHGĐ ở Thanh Hóa được sự quan tâm của tỉnh, của Sở Y tế đã có những kết quả khả quan. Tuy nhiên, đan xen với những thành công là những thách thức trong thời gian tới.
Những băn khoăn, trăn trở
Trong 6 tháng đầu năm 2009, các chỉ tiêu dịch vụ KHHGĐ của Thanh Hóa đều đạt và vượt kế hoạch (trừ đình sản) là nhờ kết quả thực hiện Chiến dịch đợt 1 tại 405/634 xã. Bằng các hoạt động truyền thông đa dạng và phong phú, trên nhiều kênh với nhiều hình thức... tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ở Thanh Hóa 6 tháng đầu năm là 9,6%, giảm 0,75% so với cùng kỳ năm trước; Các chỉ tiêu dịch vụ KHHGĐ đều có kết quả tốt hơn so với cùng kỳ năm 2008...
Tuy nhiên, công tác DS-KHHGĐ của Thanh Hóa hiện còn gặp rất nhiều khó khăn. Trước hết, đó là tổ chức bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ cấp huyện, xã chậm được kiện toàn, chưa đủ mạnh để có thể tổ chức triển khai mạnh các hoạt động của Chương trình. Tuyến huyện đang thiếu cán bộ trầm trọng. Theo Thông tư 05, bình quân mỗi huyện có ít nhất 6 cán bộ, nhưng hiện tại bình quân có 4 cán bộ, có một số đơn vị chỉ có 2 người. Do vậy, dù cố gắng hết sức cũng không thể đảm nhiệm hết được công việc của một đơn vị huyện, nhất là những huyện lớn có nhiều xã. Vấn đề này cần có sự quan tâm rất lớn của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh mới có thể giải quyết được.

Cần những giải pháp cấp bách
Tính đến 30/5/2009, toàn tỉnh Thanh Hoá có 121.055 số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ chưa sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT), trong đó cặp có 2 con một bề là gái là 28.104, cặp có 3 con trở lên là 14.252 chưa sử dụng BPTT, đây là những đối tượng “nguy cơ cao” sẽ làm tăng lượng sinh con thứ 3 trở lên trong những năm tới. BPTT lâm sàng có tác dụng lâu dài và hiệu quả cao đang có xu hướng giảm, trong đó số đặt vòng tránh thai mới (lần đầu) giảm rất nhiều so với các năm trước đây. Ngược lại, số thay vòng tránh thai chiếm tỷ trọng cao trên 30% (toàn tỉnh) đặt biệt các huyện có tỷ trọng thay vòng cao như: Thọ Xuân (46%); Hà Trung (41%); Quan Sơn (38%); Tĩnh Gia (37%); Hậu Lộc (35%); Như Xuân (34%)...
Bên cạnh đó, cơ sở vật chất của các cơ sở y tế xã tuy đã được nâng cấp, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu cung cấp dịch vụ KHHGĐ chất lượng cao. Trang thiết bị, dụng cụ y tế dành cho việc cung cấp các dịch vụ KHHGĐ còn thiếu, không đồng bộ, kém chất lượng. Hiện toàn tỉnh đang còn trên 70% số xã chưa thực hiện được kỹ thuật dịch vụ KHHGĐ; phần lớn phụ thuộc vào đội KHHGĐ huyện, dẫn đến tình trạng cung cấp dịch vụ không thường xuyên, thiếu kịp thời. Đây là vấn đề cần được sớm giải quyết để việc cung cấp dịch vụ KHHGĐ được gần dân, thường xuyên, liên tục.
Để duy trì các hoạt động của hệ thống làm công tác DS-KHHGĐ, nhanh chóng khắc phục những khó khăn nêu trên, cần có những giải pháp cấp bách, đồng bộ ở các cấp có thẩm quyền. Đối với Trung ương, cần sớm có các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ để các địa phương áp dụng thực hiện như định mức thuốc và vật tư tiêu hao trong dịch vụ KHHGĐ; Phân cấp kỹ thuật cho y tế cơ sở về dịch vụ KHHGĐ... Đối với tỉnh, tiếp tục duy trì công tác tuyên truyền giáo dục trên diện rộng, đồng thời nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền vận động trực tiếp theo chiều sâu, tuyên truyền vận động nhóm nhỏ và tư vấn nhằm tiếp tục làm chuyển biến mạnh nhận thức và sự chấp nhận qui mô gia đình ít con, xoá dần tâm lý trọng nam hơn nữ, chấp nhận các biện pháp thực hiện KHHGĐ; tăng cường các tài liệu tuyên truyền. Đặc biệt, tăng cường công tác truyền thông - giáo dục cho các xã khó khăn, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng công giáo, vùng biển.
Phải nói rằng, trong giai đoạn này hệ thống làm công tác DS-KHHGĐ được Đảng, Chính phủ quan tâm rất lớn. Nhưng để các Nghị quyết, các văn bản của Nhà nước đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực, đòi hỏi các cấp, các ngành phải bắt tay vào cuộc, phối hợp liên ngành có hiệu quả và sự cố gắng khắc phục khó khăn của những người làm công tác DS-KHHGĐ từ Trung ương đến cơ sở, chúng ta mới có thể thực hiện thành công Chương trình mục tiêu DS- KHHGĐ giai đoạn 2001- 2010 và tạo tiền đề cho Chiến lược Dân số - Sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2011- 2020.
Thạc sỹ Đỗ Quang Vinh - Phó Giám đốc Sở Y tế Thanh Hoá