Hiệu quả Đề án 52: Ngư dân được đáp ứng thông tin và dịch vụ tận nơi
GiadinhNet - Chiến lược biển năm 2020 khẳng định: Một quốc gia biển phải có công dân biển. Mục tiêu lâu dài là phấn đấu trở thành một quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển.
![]() |
|
Truyền thông phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em cho ngư dân vùng biển Cà Mau. Ảnh: Kim Há |
Ngư dân được đáp ứng thông tin và dịch vụ tận nơi
Ông Phạm Hồng Quân - Phó Giám đốc Ban quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia (Tổng cục DS-KHHGĐ) cho hay: Trong quá trình triển khai các hoạt động, 6 nhiệm vụ trọng yếu của Đề án Kiểm soát dân số các vùng biển, đảo và ven biển (Đề án 52) do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã được ngành Dân số triển khai một cách khẩn trương, đồng bộ và bước đầu đã mang lại một số kết quả, cụ thể: Nhiều mô hình can thiệp thiết kế, mô hình cung cấp dịch vụ và tư vấn về chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em, SKSS/KHHGĐ tới các khu vực vùng biển, đảo và ven biển, khu vực ngập mặn, đầm phá, cửa sông, vạn chài... được đưa vào thử nghiệm, bước đầu đem lại hiệu quả rõ rệt.
TS. Dương Quốc Trọng - Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ (Bộ Y tế) chia sẻ: "Trong thời gian qua, chúng tôi đã xây dựng 6 mô hình phù hợp ứng với Đề án 52. Đến nay có 2 mô hình rõ nhất là mô hình Đội y tế lưu động với 169 đội tại 28 tỉnh, thành; kết hợp quân - dân y. Đây là những mô hình đã có từ trước nhưng ứng với phạm vi thụ hưởng Đề án lại rất hiệu quả".
Các Đội lưu động cung cấp dịch vụ Y tế - KHHGĐ tới từng gia đình người dân đang sinh sống, làm việc. Đến nay, 28 tỉnh, thành phố ven biển đã thành lập 169 đội lưu động, bình quân mỗi huyện có 1 đội lưu động gồm 8 người; 17 tỉnh đã thành lập đội lưu động tuyến tỉnh để hỗ trợ kỹ thuật cho đội lưu động tuyến huyện. Bà con tại các địa bàn Đề án được các cán bộ lựa chọn từ Trung tâm DS-KHHGĐ, Khoa Sản Bệnh viện huyện, Trung tâm Y tế huyện cung cấp thông tin, thăm khám sức khỏe.
Tuy nhiên, trở ngại khi triển khai Đề án tại các địa phương cũng không ít. Theo ông Quân: "Cho đến nay, chúng ta chưa có những chính sách cụ thể về công tác DS-KHHGĐ mang tính đặc thù vùng biển, đảo và ven biển". Bên cạnh đó, tỷ suất sinh, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của các huyện đảo và ven biển cao hơn các huyện khác trong cùng tỉnh và cao hơn mức bình quân của cả nước. Trong 28 tỉnh, thành chưa đạt mức sinh thay thế, có 12 tỉnh ven biển; nhu cầu sinh con của các cặp vợ chồng vùng biển còn cao, nhất là sinh con trai.
GS.TS Nguyễn Trường Sơn - Viện trưởng Viện Y học Biển chia sẻ thông tin: Bác sĩ ở khu vực ven biển mới đáp ứng được khoảng 40- 50% nhu cầu. Nhân viên y tế cũng trong tình trạng thiếu thốn. Trên các tuyến đảo trung bình chỉ có từ 1- 2 bác sĩ, phải làm tất cả mọi việc. 6/7 trường y ở ven biển chưa có bộ môn y khoa để đào tạo về chuyên ngành Y học biển... Đáng chú ý hiện vẫn còn một số xã ven biển, đảo chưa có trạm y tế, 19,7% trạm y tế xã chưa có bác sĩ. Mức tăng dân số cơ học do di dân đến vùng biển, đảo và ven biển lao động và sinh sống ngày càng tăng nhanh, mật độ dân số vùng biển, ven biển cao.
Các hoạt động xây dựng và củng cố hệ thông tin quản lý DS-KHHGĐ quốc gia chưa phủ các huyện đảo; Chương trình mục tiêu Quốc gia về DS-KHHGĐ, về CSSKSS chưa đủ điều kiện giải quyết các đặc thù, đặc điểm kinh tế, xã hội của vùng biển, của người dân sống trên đảo, ven biển...
Giải pháp trọng yếu
Cũng theo TS. Dương Quốc Trọng, Đề án 52 được xây dựng trong lúc giao thời giữa UB DS,GĐ&TE và Bộ Y tế, đến nay mới thực hiện được. Như vậy, ngành Dân số đi đầu trong việc thực hiện Chiến lược biển.
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia về lĩnh vực DS-KHHGĐ, hiện nay, chúng ta có rất ít những chương trình nghiên cứu, thiếu cơ sở dữ liệu về biển, đảo; thiếu cơ chế phối hợp mang tính liên ngành, liên vùng, liên địa phương. Vì vậy để thực hiện tốt hơn nữa Chiến lược biển, cần đầu tư nghiên cứu, tổ chức nhiều Hội thảo thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn...) và chia sẻ các kết quả nghiên cứu liên quan đến vấn đề biển, đảo. Tăng cường đào tạo nghề quản lý và khai thác biển, đa dạng hoá các hình thức đào tạo phù hợp với từng đối tượng, trong đó cần ưu tiên đào tạo con em ngư dân, người làm nghề biển. Tăng cường hợp tác quốc tế về biển và hải đảo, giữ vững độc lập chủ quyền lãnh thổ gắn với kinh tế - xã hội, an ninh trên biển.
Xây dựng những công dân biển chất lượng, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục cho nhân dân vùng ven biển nhằm nâng cao nhận thức và chuyển đổi hành vi có lợi trong việc chăm sóc sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng. Cần sớm có các chính sách đặc biệt về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình để thu hút và khuyến khích mạnh mẽ nhân dân làm ăn sinh sống dài ngày trên biển, sống gắn bó lâu dài trên các đảo để vừa phát triển kinh tế, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển của Tổ quốc. Có thể đưa cán bộ y tế phục vụ tại đảo: Có chính sách khuyến khích cán bộ y tế có trình độ cao ra công tác tại các đảo, hoặc đào tạo tại chỗ cho người dân vùng biển bằng việc cử tuyển để được đi đào tạo ở các trường Đại học hoặc các cơ sở đào tạo dạy nghề. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế. Phương tiện vận chuyển cấp cứu: Cung cấp tàu vận chuyển đáp ứng kể cả khi thời tiết xấu, có cơ chế phối hợp với Bộ Quốc phòng trong việc sử dụng máy bay cấp cứu vận chuyển bệnh nhân khi cần thiết.
Đối với người dân ven biển, đặc biệt là những người đang làm việc và sinh sống trên các đảo xa cần được đáp ứng đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản, trong đó có chế độ đặc thù về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế.
Trong giai đoạn 2011-2015, Đề án 52 tiếp tục triển khai đồng bộ 6 nhiệm vụ và các hoạt động chủ yếu đã được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 52/2009/QĐ-TTg ngày 9/4/2009; ưu tiên tập trung việc giảm sinh đối với 12 tỉnh ven biển chưa đạt mức sinh thay thế và tăng cường giải pháp kiểm soát giới tính khi sinh đối với 18 tỉnh, thành phố ven biển có tỷ số giới tính khi sinh ở mức cao trên 110.
|
Tại 28 tỉnh, thành thuộc phạm vi Đề án 52 trong hơn 2 năm qua, đã có 654.004 lượt người được tư vấn về các nội dung CSSKSS, KHHGĐ; 91.672 bà mẹ mang thai đã được khám thai; 701.968 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã được khám phụ khoa, trong đó cấp thuốc điều trị và tư vấn cho 354.524 trường hợp phụ nữ mắc các bệnh phụ khoa. Thực hiện khám, kiểm tra sức khoẻ, điều trị các bệnh thông thường và lập danh sách quản lý trẻ em tại cộng đồng cho 201.207 cháu... |
Thu Nguyên
