|
Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc cải thiện chất lượng sống cho người cao tuổi. Ảnh: Vĩnh Cát |
Dân số của một nước có tỷ lệ người cao tuổi đạt tới 10% thì được coi là bắt đầu bước vào quá trình già hóa. Tỷ lệ người cao tuổi tăng dần và khi tỷ lệ này đạt 20% thì gọi là dân số già.
Đối với mỗi cá nhân, đương nhiên ai cũng mong muốn “Giàu trước khi già” chứ chẳng ai lại mơ điều ngược lại, bởi nếu “Già trước khi giàu” thì gần như đồng nghĩa với chẳng bao giờ giàu được. Trẻ còn chẳng ăn ai, huống chi đến lúc sức yếu, bệnh nhiều, xoay chuyển tình hình thế nào được? Vả lại, nếu có trở nên giàu đi chăng nữa thì đối với người cao tuổi cũng kém ý nghĩa, vì khi đó dường như không còn năng lực hưởng thụ sự giàu có!
Đối với một quốc gia, nếu lâm vào cảnh “Già trước khi giàu” cũng có nhiều phiền toái cho sự phát triển: Gánh nặng phụ thuộc tăng lên, chủ yếu là “phụ thuộc già”, nguy cơ vỡ quỹ hưu trí, gánh nợ nước ngoài đến hạn phải trả,… làm cho khả năng rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” tăng.
Dân số Việt Nam bao giờ thì già?
Từ thế kỷ trước, nhiều nước trên thế giới đã có dân số già, như: Thụy Điển (năm 1975), Pháp (năm 1980), Nhật Bản (năm 1996),…. Ở nước ta, theo Tổng điều tra Dân số, năm 2009, tỷ lệ người cao tuổi chiếm 9%, nghĩa là sát ngưỡng già hóa.
Căn cứ vào số liệu Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009, Viện Dân số và các vấn đề xã hội dự báo dân số theo 3 phương án cho thấy, Việt Nam có dân số già vào:
Năm 2040, nếu mức sinh tiếp tục giảm nhanh và đến năm 2059, trung bình mỗi phụ nữ chỉ có 1,4 con/phụ nữ.
Năm 2041, nếu mức sinh giảm ở mức vừa phải, đến năm 2059, trung bình mỗi phụ nữ có 1,6 con.
Năm 2042 nếu mức sinh giảm chậm, đến năm 2059, vẫn giữ ở mức trung bình mỗi phụ nữ có 1,8 con.
Một số dự báo khác cho thấy, dân số nước ta có khả năng đạt “ngưỡng” già sớm hơn, như theo phương án mức sinh trung bình của Tổng cục thống kê thì thời điểm này là vào năm 2038, còn Tổng cục DS-KHHGĐ là năm 2035.
Dù phương án nào thì khoảng 30 năm nữa, Việt Nam sẽ có hơn 106 triệu dân, với hơn 21 triệu người cao tuổi và thực sự trở thành quốc gia có dân số già...
Và bao giờ thì giàu?
Tiêu chuẩn nước giàu của Ngân hàng thế giới tăng lên không ngừng theo thời gian. Nếu năm 1986, một quốc gia có thu nhập quốc dân bình quân đầu người đạt 6.000 USD đã được gọi là nước có thu nhập cao (hay đơn giản gọi là nước giàu) thì đến năm 2011, tiêu chuẩn này đã nâng lên tới 12.475 USD trở lên. Như vậy, sau 25 năm, tiêu chuẩn nước giàu đã tăng gấp đôi. Giả sử rằng vào những năm 2035- 2042, tức là thời kỳ Việt Nam có dân số già, tiêu chuẩn này chỉ giữ ở mức 20.000 USD/người.
Năm 2011, thu nhập quốc dân bình quân đầu người của Việt Nam mới đạt 1.260 USD và được xếp vào loại nước có thu nhập trung bình thấp. Người ta tính toán được rằng, nếu thu nhập quốc dân bình quân đầu người của Việt Nam tăng liên tục hàng năm ở mức 10% thì vào năm 2039, chỉ tiêu này ở nước ta đạt tới 20.160 USD/người và Việt Nam sẽ trở thành nước giàu. Khi đó, dù xảy ra phương án nào theo dự báo của Viện Dân số và các vấn đề xã hội thì Việt Nam cũng trở thành nước “giàu trước khi già”.
Tuy nhiên, nếu quá trình “già hóa” diễn ra nhanh chóng và thời điểm Việt Nam có dân số già vào năm 2038 hoặc 2035 như dự báo của Tổng cục thống kê hay Tổng cục DS-KHHGĐ thì nước ta vẫn rơi vào tình trạng “già trước khi giàu”.
Đi tìm kịch bản...
Những phân tích trên cho thấy “giàu trước khi già” hay “già trước khi giàu” phụ thuộc vào 3 yếu tố: Tiêu chuẩn giàu cao hay thấp? Tốc độ già hóa và Tăng trưởng kinh tế nhanh hay chậm?
Hiện nay, Việt Nam chưa phải là quốc gia giàu, dân số cũng chưa già nên vẫn còn những kịch bản phát triển để đạt được trạng thái lý tưởng “giàu trước khi già”. Có thể kể mấy kịch bản sau:
1. Nếu chuẩn giàu 20.000 USD/người/năm; già hóa nhanh, dân số già vào khoảng năm 2035 trở đi, kinh tế phát triển nhanh và liên tục khoảng 12%/năm thì Việt Nam sẽ “giàu trước khi già”.
2.Nếu chuẩn giàu 20.000 USD/người/năm; già hóa chậm, dân số già vào khoảng năm 2040 trở đi, kinh tế phát triển nhanh và liên tục khoảng 10%/năm thì Việt Nam sẽ “giàu trước khi già”.
3.Nếu chuẩn giàu chỉ ở mức 15.000 USD/người/năm; già hóa nhanh, dân số già vào khoảng năm 2035 trở đi, kinh tế phát triển vào loại nhanh và liên tục khoảng 10%/năm thì Việt Nam sẽ “giàu trước khi già”.
4.Nếu chuẩn giàu chỉ ở mức 15.000 USD/người/năm; già hóa chậm, dân số già vào khoảng năm 2042 trở đi, kinh tế phát triển vào loại khá và liên tục khoảng 8%/năm thì Việt Nam sẽ “giàu trước khi già”.
Dù phương án nào thì điều cốt lõi là kinh tế phát triển nhanh. Có thể tính toán được rằng, ngay cả khi dân số già hóa chậm, tiêu chuẩn được gọi là nước giàu thấp, thì tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt đến 7%/năm, Việt Nam vẫn rơi vào tình trạng “Giàu trước khi già”.
Trong bối cảnh suy thoái kinh tế, điều kiện phát triển nhanh và liên tục giữ được, dù ở mức thấp nhất là 8% như các kịch bản trên cũng là điều rất khó khả thi. Vì vậy, bên cạnh phấn đấu đạt tăng trưởng kinh tế cao, giữ cho mức sinh giảm thấp một cách hợp lý (khoảng 1,8 con/phụ nữ vào giữa thế kỷ), Việt Nam vẫn cần chuẩn bị tốt cho phương án “Già trước khi giàu”...
|
Năm 2011, thu nhập quốc dân bình quân đầu người của Việt Nam mới đạt 1.260 USD và được xếp vào loại nước có thu nhập trung bình thấp. Người ta đã tính toán được rằng, nếu thu nhập quốc dân bình quân đầu người của Việt Nam tăng liên tục hàng năm ở mức 10% thì vào năm 2039, chỉ tiêu này ở nước ta đạt tới 20.160 USD/người và nước ta sẽ trở thành nước giàu. Khi đó dù xảy ra phương án nào theo dự báo của Viện Dân số và các vấn đề xã hội thì Việt Nam cũng trở thành nước “giàu trước khi già”. |
GS-TS Nguyễn Đình Cử (Đại học Kinh tế quốc dân)