Mất cân bằng giới tính khi sinh ở VN: Một cách nhìn mới
GiadinhNet - Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở nước ta gần đây đã trở thành vấn đề bức xúc, đáng lo ngại.
![]() |
|
Nếu không có những chính sách, giải pháp can thiệp quyết liệt, kịp thời thì tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở VN sẽ tăng nhanh trong vòng 10-15 năm tới. Ảnh: Dương Ngọc. |
Di cư có vai trò lớn tác động đến cơ cấu giới tính
Tỷ số giới tính khi sinh phản ánh tình hình giới tính của nhóm trẻ em mới sinh (nhóm trẻ em 0 tuổi). Mỗi năm, nước ta có khoảng hơn 1 triệu trẻ em sinh ra.
Hiện nay, đứng trước nhu cầu cấp thiết, Tổng cục Thống kê đã thu thập và ước tính tỷ lệ giới tính khi sinh từ kết quả điều tra biến động dân số trong một số năm gần đây. Còn số liệu chi tiết thường được tính từ kết quả tổng điều tra dân số (TĐTDS) tổ chức 10 năm/lần. Như vậy ngoài số liệu TĐTDS, số liệu tỷ số giới tính khi sinh không có hàng năm và là số liệu ước tính từ kết quả điều tra chọn mẫu. Để xem xét, đánh giá tình hình mất cân bằng giới tính khi sinh ta có thể đánh giá qua tỷ số giới tính chung là số liệu được công bố hàng năm và có độ chính xác cao hơn vì đảm bảo theo luật thống kê số lớn.
![]() |
|
Hình 1: Tỷ số giới tính của Việt Nam và một số nước trên thế giới năm 2010. Nguồn: Word Population Prospects: The 2008 Revision Population Database, United Nations, 2009. |
Sự mất cân bằng giới tính khi sinh do hiện tượng chọn lựa giới tính thai nhi và trẻ em cũng phản ánh sự tác động làm tỷ số giới tính của dân số một số nước tăng lên một cách bất bình thường.
Những nước phát triển như Nga, Pháp, Thuỵ Sĩ, Bỉ, Tây Ban Nha, Mỹ... đều có tỷ số giới tính thấp, còn những nước đang phát triển như Pakistan, Bangladesh, Dominicana, Congo... đều có tỷ số giới tính cao. Trung Quốc, Ấn Độ tuy kinh tế tương đối phát triển nhưng lại thuộc những nước có hiện tượng lựa chọn giới tính thai nhi khá phổ nên tỷ số giới tính khi sinh, tỷ số giới tính của trẻ em (0-4 tuổi) và tỷ số giới tính chung đều khá cao (tỷ số giới tính khi sinh của Trung Quốc thời kỳ 2005-2010 là trên 120 bé trai trên 100 bé gái). (Xem minh họa hình 1)
Cần những giải pháp cấp bách
![]() |
|
Hình 2: Tỷ số giới tính của dân số Việt Nam các năm 1931-2009. Nguồn: Tổng điều tra dân số VN các năm 1979, 1989,1999, 2009. Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số Trung ương, Tổng cục Thống kê, Nhà Xuất bản Thống kê, Hà Nội. |
|
Các giải pháp quan trọng Tuyên truyền, vận động, giáo dục người dân thay đổi định kiến "trọng nam, khinh nữ", thích sinh con trai- đây là nguyên nhân căn bản, hàng đầu và cũng là tập tục truyền thống lâu đời ở nhiều nước châu Á. Thay đổi được nhận thức hành vi của người dân là việc lâu dài, không thể tiến hành trong một sớm một chiều. Đảng và Nhà nước cần có những chính sách cụ thể nâng cao vị thế của phụ nữ về mọi mặt. Chú trọng chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi, đặc biệt là ở nông thôn (chiếm 70% dân số) vì người cao tuổi chủ yếu vẫn sống dựa vào con cái mà chủ yếu là con trai. Ban hành và thực thi các văn bản qui phạm pháp luật nghiêm cấm việc lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức. |
TS Nguyễn Quốc Anh


