Quyền được học tập của trẻ nhiễm HIV: Cần nhiều biện pháp tích cực
Đại dịch HIV/AIDS không chỉ tác động xấu đến quá trình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến các nhóm quyền cơ bản của trẻ em, trong đó quyền được học tập của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV chưa được đảm bảo.
![]() |
|
Bác sĩ Nguyễn Trọng An,
Phó Cục trưởng Cục BVCSTE. |
- Vậy làm thế nào để giảm bớt sự kỳ thị này, thưa ông?
Trước hết phải nói rằng, việc các bậc cha mẹ lo lắng cũng có cái lý là xuất phát từ sự thương yêu, bảo vệ con em mình. Để giảm bớt sự kỳ thị thì biện pháp đầu tiên và quan trọng nhất là công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân. Trước đây chúng ta đã tuyên truyền thái quá về HIV như là con ngáo ộp đáng sợ, là căn bệnh thế kỷ, là bản án tử hình… Chính cách tuyên truyền lệch lạc, một chiều theo kiểu miệt thị đó đã khiến người dân mù mờ, không hiểu rõ về HIV, gây tâm lý sợ hãi, lo lắng rồi dẫn đến kỳ thị và phân biệt đối xử. Bây giờ tuyên truyền lại là rất khó. Chúng ta cần phải giúp mọi người hiểu rõ bản chất vấn đề để vượt qua rào cản tâm lý. Thực ra HIV cũng giống nhiều căn bệnh khác, có thể phòng tránh được. Song song với việc tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, ta phải tuyên truyền ngay tại các buổi họp phụ huynh trong trường học, cho học sinh và bản thân các em bé “có H” về con đường lây nhiễm và cách phòng tránh HIV, cách chơi với bạn như thế nào để hai bên cùng được an toàn…
Ngày nay ngành y tế, ngành giáo dục luôn có đủ những biện pháp để bảo đảm sự an toàn cho trẻ nên phụ huynh có thể hoàn toàn yêu tâm. Cho đến nay, sau gần 30 năm, trên toàn thế giới cũng như Việt Nam chưa ghi nhận bất kỳ trường hợp trẻ em nào bị lây nhiễm HIV bởi các trẻ em khác qua tiếp xúc hay sinh hoạt bình thường, mà chỉ có lây từ mẹ sang con. Trẻ “có H” hiện nay đã được điều trị miễn phí bằng thuốc ARV nên các em có thể kéo dài cuộc sống thêm hàng chục năm. Phần lớn trẻ được điều trị bằng ARV không tìm thấy virus HIV trong máu, lúc đó các em cũng khỏe mạnh như những trẻ bình thường khác. Điều đó cho thấy, khả năng lây nhiễm HIV của những trẻ chơi chung với nhau là rất khó, hầu như không thể xảy ra. Do đó, không gì có thể cản trở đến quyền được học tập của các em.
Bên cạnh đó cần phải tuyên truyền, khơi gợi lòng nhân ái, sự đùm bọc yêu thương đối với những trẻ em không may “có H”. Ông bố bà mẹ nào cũng có tình thương đối với trẻ nhỏ, nhất là với những em bé vô tội. Đồng thời phải tuyên truyền pháp luật để mọi người hiểu rằng, việc ngăn cản trẻ “có H” đến trường là phạm luật.
- Tuy nhiên, muốn đảm bảo quyền học tập, quyền được vui chơi giải trí của trẻ có HIV, không thể chỉ hoàn toàn dựa vào tuyên truyền và ý thức tự giác của người dân, theo ông cần có những chính sách gì ở tầm vĩ mô?
Việt Nam đã có luật, có pháp lệnh, có những quy định về việc không được kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV, nhưng đó mới chỉ là những quy định chung chứ chưa có biện pháp chế tài cụ thể. Mặt khác, rất nhiều người dân, thậm chí nhiều cơ quan nhà nước còn coi thường luật pháp. Họ thấy trong nhiều trường hợp, không tuân thủ luật pháp cũng chẳng làm sao cả, thế nên mới “nhờn luật”. Hiện nay, Chính phủ đang xây dựng những nghị định mới, quy định rõ những hành vi gây cản trở quyền được học tập, quyền được hòa nhập và vui chơi giải trí của trẻ em nhiễm HIV sẽ bị xử lý như thế nào. Theo đó, không chỉ những hành vi ngăn cản, mà cả hành vi lôi kéo, dụ dỗ các bà mẹ khác, các gia đình khác để ngăn cản việc học tập của trẻ em “có H”, cũng sẽ bị xử phạt rất nặng.
Bộ GD-ĐT tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn các sở phổ biến việc tuân thủ pháp luật tới từng nhà trường, từng giáo viên và cán bộ giáo dục, kèm theo những biện pháp chế tài cụ thể.
