Với đề án này, người dân vùng biển Phú Yên sẽ có thêm nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản (CSSKSS), kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ), giảm mức sinh, nâng cao chất lượng dân số...
Phấn đấu ổn định qui mô dân số vùng biển
Các mục tiêu cần đạt được trong giai đoạn 2009-2020 của tỉnh là: Quy mô dân số các vùng biển, đảo và ven biển của Phú Yên không vượt quá 574.000 người vào năm 2020, tỉ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại các xã vùng biển, đảo, ven biển áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại đạt 72% năm 2010, 80% - 85% vào năm 2020; tỉ lệ người làm việc và người dân sinh sống trên biển, đảo, ven biển, trong các khu công nghiệp, khu du lịch, khu kinh tế thuộc vùng biển, đảo, ven biển và trên biển được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em, CSSKSS – KHHGĐ đạt 60% vào năm 2010, 95% vào năm 2020; giảm tỉ lệ trẻ em tại các vùng biển, đảo và ven biển bị dị dạng, dị tật và thiểu năng trí tuệ do rối loạn chuyển hoá và do di truyền bình quân hàng năm khoảng 5% trong giai đoạn 2011- 2020. Đồng thời, cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin, số liệu về dân số, KHHGĐ tại các vùng biển, đảo và ven biển, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành chương trình dân số, KHHGĐ, yêu cầu xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của địa phương và Trung ương.
|
|
|
Trẻ em làng chài (Ảnh: P.A.Tuấn). |
Tuy nhiên, do điều kiện địa lý, khí hậu và đặc thù nghề nghiệp vùng biển nên tại các xã ven biển, bãi ngang của Phú Yên, cuộc sống người dân còn khó khăn và chịu nhiều rủi ro. Tỉ lệ sinh còn cao, trẻ em trong độ tuổi đến trường thấp, lao động phổ thông chiếm tỉ lệ lớn, thiếu việc làm, một số tập tục mê tín dị đoan xuất hiện dưới nhiều hình thức; một số cụm dân cư thường xuyên bị triều cường xâm thực, đe dọa đến an toàn cuộc sống. Người dân sống làm việc trên biển dài ngày, dân di cư đến lao động trong các khu kinh tế biển ngày càng nhiều; thường xuyên đối mặt với thiên tai, tình trạng xâm nhập mặn đã tác động không nhỏ tới đời sống của người dân nơi đây. Do vậy, người dân còn bị hạn chế tiếp cận và được hưởng thụ đầy đủ các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em, sức khoẻ sinh sản và KHHGĐ.
Tất cả cho mục tiêu nâng cao chất lượng sống
Thạc sĩ Đỗ Thị Như Mai, Phó Chi cục trưởng chi cục DS-KHHGĐ Phú Yên, cho biết: “Căn cứ vào nội dung đề án và tình hình thực tế của địa phương, thời gian tới, Chi cục sẽ thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể: Khám và điều trị các bệnh phụ khoa thông thường, khám thai, thực hiện kỹ thuật các biện pháp tránh thai, tiến hành các xét nghiệm cơ bản về soi tươi, viêm gan, HIV. Truyền thông DS-KHHGĐ, cách làm mẹ an toàn, triển khai sàng lọc sơ sinh và thai nhi. Các huyện, TP có xã vùng biển, đảo và ven biển sẽ thành lập một đội truyền thông lưu động và tổ chức mô hình điểm cung cấp dịch vụ tại nơi mà người lao động xuất bến đi biển dài ngày, khi cập bến, tại các bến cảng, điểm thuận lợi đối với người dân đầm phá. Đồng thời, nâng cao chất lượng dân số khi sinh và phòng, chống bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, lây truyền qua đường tình dục, phòng ngừa mang thai ngoài ý muốn, phá thai an toàn...”.
|
|
|
Việc triển khai đề án không chỉ đạt mục tiêu giảm sinh mà còn giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ (Ảnh: Thành Châu). |
Việc triển khai đề án không chỉ đạt mục tiêu giảm sinh mà còn giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ, tử vong sơ sinh, tử vong trẻ em, nạo phá thai... và nâng cao chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực tại vùng biển, đảo và ven biển của Phú Yên; tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần. Các nhóm đối tượng đích sẽ được hưởng các dịch vụ CSSKSS - KHHGĐ và dịch vụ y tế khác gần hơn, dễ tiếp cận hơn. Bà mẹ và trẻ em được tư vấn và chăm sóc y tế để cải thiện sức khỏe, phòng chống lây nhiễm HIV, tệ nạn xã hội khác; giảm số lượng sơ sinh có dị tật dị dạng, giảm gánh nặng về chi phí cho xã hội để chăm sóc người tàn tật. Tạo động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế, xã hội và khẳng định ưu thế của kinh tế biển. Việc thu thập thông tin hệ cơ sở dữ liệu dân cư trong đề án này góp phần quản lý người lao động trên biển và tăng thêm cơ hội giảm sinh cho người dân vùng biển Phú Yên.
|
Phú Yên thuộc khu vực duyên hải Nam Trung bộ, có bờ biển dài 189 km, dân số các xã của 4 huyện thuộc vùng biển, đảo và ven biển gần 498,1 nghìn người (chiếm 56,5% dân số toàn tỉnh), dân cư tập trung đông, mật độ dân số 384 người/km2 (vùng biển cả nước 373 người/km2) gấp 2.2 lần so với toàn tỉnh (175 người/km2).
Diện tích tự nhiên của các địa phương vùng biển Phú Yên là 1.279km2, trải dài trên 4 huyện (Đông Hòa, TP Tuy Hòa, Tuy An và Sông Cầu) có 29 xã ven biển và 24 xã thuộc vùng biển. Phía nam có cảng Vũng Rô, phía bắc có các khu du lịch biển, ngoài biển có các đảo nhỏ như Hòn Nưa, Hòn Khô, Cù Lao, Mái Nhà, Hòn Chùa... rất thuận lợi cho phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế và du lịch sinh thái biển cao cấp. Đề án kiểm soát dân số vùng biển, đảo và ven biển giai đoạn 2009-2020 nhằm kiểm soát quy mô và chất lượng dân số ở các vùng này góp phần thực hiện thắng lợi chính sách DS - KHHGĐ và các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng biển của Phú Yên. |
Thùy Thảo