Thái Bình duy trì giảm sinh, ổn định quy mô, nâng cao chất lượng dân số
GiadinhNet - Trong các hoạt động về DS-KHHGĐ ở Thái Bình, Đề án kiểm soát dân số vùng ven biển đã được triển khai có hiệu quả cao.
Công tác DS-KHHGĐ ở Thái Bình trong nhiều năm qua đã được sự quan tâm và chỉ đạo của các cấp uỷ, chính quyến, sự phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể, đặc biệt là sự nỗ lực trong việc tham mưu và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ làm công tác dân số từ tỉnh đến cơ sở, do vậy công tác DS– KHHGĐ của Thái Bình đã đạt được kết quả quan trọng: 10 năm liền Thái Bình giữ vững mục tiêu duy trì mức sinh thay thế (với tổng tỷ suất sinh đạt 2,01 con). Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 0,8%. Tỷ suất sinh thô đạt 13,3%o, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 11,5%. Chất lượng dân số từng bước được cải thiện: Tuổi thọ trung bình của người dân đạt 76 tuổi, cao hơn cả nước. Mô hình gia đình ít con, khoẻ mạnh được đông đảo nhân dân trong tỉnh hưởng ứng. Nhiều cặp vợ chồng trẻ đã tự nguyện chấp nhận quy mô gia đình chỉ có 1 hoặc 2 con.
Nhận thức và hành động của toàn xã hội về công tác DS – KHHGĐ được nâng lên rõ rệt: Cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở đã coi công tác DS – KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế xã hội, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội. Công tác DS – KHHGĐ là một chỉ tiêu để xếp loại cơ sở đảng, đơn vị chính quyền trong sạch vững mạnh, là tiêu chuẩn để xét gia đình văn hoá, làng xã văn hoá và xét thi đua khen thưởng cho tập thể, cá nhân hàng năm.
Đặc biệt “Đề án kiểm soát dân số vùng ven biển” đã được triển khai có hiệu quả cao:
Thái Bình có 2 huyện: Tiền Hải và Thái Thuỵ có 52 km bờ biển thực hiện Đề án: Kiểm soát dân số vùng biển, ven biển” là những huyện có tỷ lệ giáo dân và tỷ lệ sinh con thứ 3 cao, tỷ lệ sinh con thứ 3 của Tiền Hải (231,8%), Thái Thuỵ (13,0%). Tỷ lệ nạo hút thai, mắc các bệnh lây lan qua đường sinh sản, bệnh lây qua đường tình dục còn cao. Nắm bắt được tình hình đó, ban quản lý đề án và Chi cục DS-KHHGĐ đã chủ động phối hợp với các cấp, các ngành ở địa phương đã tích cực vào cuộc. Nhiều mô hình của Đề án được triển khai. “Mô hình đáp ứng nhu cầu CSSKBMTE và KHHGĐ”; “Mô hình nâng cao chất lượng dân số khi sinh”; “Mô hình tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác truyền thông về dân số sức khỏe sinh sản và KHHGĐ” đã giúp chị em có điều kiện nâng cao nhận thức, chăm sóc SKSS/KHHGĐ.
Bên cạnh đó, công tác truyền thông luôn được coi trọng, tổ chức nhiều hoạt động có hiệu quả. Trong hơn một năm qua, cùng với việc truyền thông trực tiếp tại cơ sở, nhiều đợt truyền thông lưu động với băng zôn, khẩu hiệu, tờ rơi đi khắp đường làng ngõ xóm để tuyên truyền về SKSS – KHHGĐ cho người dân.
Năm 2009 là năm sau khi kiện toàn bộ máy Dân số các cấp, ngành dân số Thái Bình thu được nhiều kết quả trong việc thực hiện các mục tiêu DS-KHHGĐ. Chi cục DS–KHHGĐ Thái Bình được Bộ Y tế tặng Cờ thi đua đơn vị xuất sắc về công tác DS – KHHGĐ…
Tuy nhiên công tác dân số của Thái Bình giai đoạn hiện nay còn nhiều khó khăn, thách thức:
Quy mô dân số của Thái Bình vẫn lớn, mật độ dân số gần 1200 người/km2 cả nước là 256 người/km2; là tỉnh thuần nông do vậy thu nhập đầu người còn quá thấp; kết quả giảm sinh chưa ổn định: Tỷ lệ người sinh con thứ 3 trở lên còn cao ở một số vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế kém phát triển, vùng có nhiều đồng bào công giáo.
Chất lượng dân số còn nhiều hạn chế về thể lực, chiều cao, cân nặng, sức bền. Tỷ lệ chênh lệch giới tính khi sinh đang là vấn đề đáng lo ngại, tỷ lệ người già rất cao chiếm 12%; Mấy năm ngần đây số trẻ sinh ra là trai thường cao hơn so với số trẻ sinh ra là gái (tỷ lệ là 114 nam/100 nữ).
Trong những năm tới giai đoạn 2011 – 2020, Thái Bình xác định duy trì mức sinh thấp hợp lý (phấn đấu số con trung bình trên một bà mẹ là 1,8 – 1,9 con) tiến tới sớm ổn định quy mô dân số ở mức 2,02 triệu người, nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH – HĐH đất nước. Đảm bảo tỷ lệ phát triển dân cố tự nhiên ở mức 0,8 – 0,72%; Tỷ suất sinh thô giảm bình quân hàng năm0,2%o – 0,15%o, tỷ lệ áp dụng BPTT đạt trên 80% giảm tỷ lệ nạo phá thai xuống 0,3 ca/ca sinh, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi dưới 10%, cải thiện chất lượng giống nòi, phấn đấu giảm tỷ lệ dị tật bẩm sinh hạn chế số người nhiễm HIV/AIDS… Giảm nhanh tốc độ gia tăng tỷ số chênh lệch giới tính khi sinh.