TS Dương Quốc Trọng - Tổng cục trưởng Dân số-KHHGĐ: Cuộc vận động lâu dài, bền bỉ

| Dân số và phát triển

GiadinhNet - "Để thay đổi nhận thức con gái cũng như con trai, sẽ là cuộc vận động lâu dài, bền bỉ chứ không thể trong một vài năm"

TS Dương Quốc Trọng 

TS Dương Quốc Trọng - Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ nhấn mạnh như vậy khi đề cập đến giảm tỉ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh - một trong những khó khăn, thách thức mà ngành dân số tập trung giải quyết trong thời gian tới.

Không một phút chủ quan

Hành động của Ngày dân số Thế giới năm nay đều dựa trên những số liệu của cuộc Tổng điều tra dân số. Trên cơ sở đó, xin ông cho biết Tổng cục DS-KHHGĐ sẽ tham mưu gì cho Bộ Y tế, Chính phủ về công tác dân số?

- Các dữ liệu của cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở (TĐT) rất quan trọng đối với ngành dân số. Các số liệu của TĐT cho thấy tỉ lệ trẻ em giảm, tỉ lệ người cao tuổi tăng, tỉ số giới tính khi sinh cao và có sự di cư rất rõ rệt giữa các vùng, các tỉnh khác nhau.
 
Tất cả những dữ liệu trên phản ánh các động thái dân số, từ đó chúng tôi có đề xuất xây dựng các chính sách để Bộ Y tế trình Chính phủ như: Từng bước chuyển hướng từ giảm sinh sang chăm lo nâng cao chất lượng dân số; đề xuất các giải pháp đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi; khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh; chăm lo các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, trước hết là chăm sóc SKSS/KHHGĐ ở các khu vực có đông đồng bào di cư,...

Trong giai đoạn tới phải tiến hành đồng bộ các lĩnh vực của công tác dân số cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số... Quy mô dân số nước ta vẫn còn sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới và việc tăng này sẽ kéo dài khoảng 30 năm nữa mới dừng lại, mặc dù chúng ta đã đạt mức sinh thay thế từ năm 2005, mỗi người phụ nữ có dưới 2,1 con.

Theo ông, liệu đà tăng này có dẫn tới nguy cơ bùng nổ dân số lần thứ hai không? Ngành Dân số sẽ làm gì để ngăn ngừa?

- Qua kết quả TĐT, số người trong nhóm tuổi từ 15 - 19 tuổi là cao nhất, tiếp đó là nhóm tuổi 20 - 24. Trong 10 năm tới, cả 2 nhóm tuổi trên sẽ bước vào giai đoạn "mắn đẻ" nhất. Vì thế, số lượng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sẽ tiếp tục tăng và đạt cực đại vào khoảng năm 2020 hay nói một cách khác, hiện nay cứ 2 người phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ mới có 1 người bước ra khỏi độ tuổi này.
 
Qua số liệu trên, chúng ta thấy "tiềm năng" sinh đẻ của dân số Việt Nam trong 10 năm tới là rất lớn nên chúng ta không thể chủ quan, công tác giảm sinh không được lơi lỏng, đặc biệt việc đáp ứng nhu cầu về tránh thai, KHHGĐ cho nhóm phụ nữ này trong giai đoạn tới rất quan trọng.
 

Giới trẻ đã không còn ngại ngần khi tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ. Ảnh: Dương Ngọc

Tuy nhiên, qua số liệu của 3 lần Tổng điều tra gần đây nhất, chúng ta lại nhận thấy, sau mỗi một thập kỷ, số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tăng khoảng từ 4 - 5 triệu người nhưng số dân tăng thêm hàng năm đã bắt đầu giảm: giai đoạn 1999 - 2009, mỗi năm dân số nước ta chỉ tăng thêm 947 nghìn người, trong khi thập kỷ 1979-1989 tăng thêm 1,1 triệu, thập kỷ 1989 - 1999 là 1,2 triệu. Do đó, với đà thắng lợi của giai đoạn trước đây, chúng tôi hi vọng đà giảm sinh sẽ tiếp tục giảm, tránh được sự bùng nổ dân số.

Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới và khu vực đã cho chúng ta thấy, dân số và phát triển có mối tương quan mật thiết với nhau, chúng ta thực hiện kế hoạch hóa gia đình để góp phần xóa đói giảm nghèo, giúp cho tăng trưởng kinh tế và ngược lại khi mà kinh tế - xã hội phát triển thì tự thân mỗi người dân cũng không có nhu cầu đẻ nhiều con như giai đoạn trước đó nữa.
 
Tuy nhiên điều đó còn tùy thuộc vào phong tục, tập quán, văn hóa và trình độ phát triển của mỗi nước, mỗi dân tộc, từng vùng, miền,... Vì vậy, khi xây dựng Chiến lược DS-SKSS giai đoạn 2011 - 2020, chúng tôi đề xuất mục tiêu phấn đấu tổng tỉ suất sinh (số con trung bình của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ - TFR) dao động trong khoảng 1,8 - 2 con (hiện nay là 2,03 con).
 
Trong Chiến lược, chúng tôi cũng kiến nghị điều chỉnh mức sinh phù hợp với từng vùng, từng tỉnh để làm sao tất cả các tỉnh đều đạt được mức sinh thay thế (2,1 con) nhưng cũng không để TFR xuống thấp quá. Nếu để TFR rơi xuống ngưỡng 1,1 - 1,2 con sẽ rất khó vực được mức sinh lên. Và như vậy, chúng ta có thể hình dung việc kiểm soát mức sinh trong giai đoạn tới cũng giống như kiểm soát tiền tệ: lúc phải thắt chặt, khi phải nới lỏng đề phòng "lạm phát" và cũng đề phòng cả "thiểu phát".

Cần có biện pháp can thiệp phù hợp

Việc mất cân bằng giới tính khi sinh đã được cảnh báo sẽ đưa đến những hệ lụy lớn. Tổng cục DS-KHHGĐ sẽ làm gì để giảm thiểu tình trạng này, thưa ông?

- Muốn có giải pháp can thiệp làm giảm mất cân bằng giới tính khi sinh, chúng ta cần phân tích nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng này để rồi từ đó chúng ta mới có cách can thiệp cho phù hợp. Để giảm thiểu được nguy cơ, ngành dân số đã và sẽ tiếp tục tập trung vào truyền thông, thay đổi nhận thức của người dân.
 
Để người dân chấp nhận việc mỗi gia đình có từ 1 - 2 con, chúng ta đã phải mất 50 năm, vậy để thay đổi nhận thức coi con gái cũng như con trai, sẽ là cuộc vận động lâu dài, bền bỉ chứ không thể trong một vài năm được.
Bên cạnh việc tuyên truyền, vận động, cũng cần phải xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức. Trong năm vừa qua, Tổng cục DS-KHHGĐ đã phối hợp với Thanh tra Bộ Y tế, Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông đi kiểm tra, thanh tra các nhà xuất bản, nhà sách, các trang web, ấn phẩm có phổ biến phương pháp sinh con theo ý muốn.
 
Khi phát hiện có vi phạm, chúng tôi đã yêu cầu thu hồi, đình chỉ xuất bản và tháo gỡ các nội dung trên. Tổng cục DS-KHHGĐ và các đoàn thanh tra cũng đã phát hiện đề xuất xử lý một số phòng khám, siêu âm vi phạm pháp luật về việc chẩn đoán giới tính thai nhi. 

Với chủ đề "Mọi người đều được quan tâm", vậy những người nhiễm HIV sẽ được quan tâm và dự phòng như thế nào trong việc nâng cao chất lượng dân số (CLDS)?

- Việc phòng chống HIV/AIDS với việc nâng cao CLDS có sự gắn bó mật thiết. Nếu tỉ lệ người nhiễm cao thì không thể có một chất lượng dân số tốt được. Mục tiêu của Chiến lược phòng chống HIV/AIDS đến 2010 là phấn đấu tỉ lệ nhiễm trong nhân dân là 0,3% thì hiện nay là 0,28%, kết quả đạt được tốt hơn chỉ tiêu đã đề ra.

Ngành dân số tham gia rất tích cực vào một trong những chương trình hành động trong Chiến lược phòng chống HIV/AIDS đến năm 2010 là chương trình chăm sóc, điều trị, dự phòng HIV từ mẹ sang con. Chúng tôi đã tiến hành một số đề án, mô hình nâng cao CLDS như tư vấn kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân, sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh.
 
Việc chăm sóc, điều trị dự phòng HIV/AIDS như là một cấu phần trong các mô hình, đề án nói trên. Nếu được xét nghiệm và điều trị sớm sẽ làm giảm tỉ lệ lây nhiễm HIV từ mẹ sang con từ khoảng trên 30% xuống còn dưới 10%, 5% thậm chí là dưới 2%.
- Cảm ơn ông về những thông tin này.
 
Đề án sàng lọc trước sinh và sơ sinh được Tổng cục DS-KHHGĐ triển khai tại 30 tỉnh, thành phố tại cả 3 miền Bắc - Trung - Nam. Hiện nay việc triển khai mới chỉ ở 2 huyện/tỉnh và một số xã tại các huyện trên. Diện bao phủ và đối tượng của ta còn hẹp, số lượng bệnh hạn chế.
 
Chúng tôi hi vọng trong giai đoạn tới, kinh phí từ Chương trình mục tiêu Quốc gia DS-KHHGĐ được phê duyệt lớn hơn, có thêm sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế sẽ mở rộng thêm địa bàn triển khai sàng lọc trước sinh và sơ sinh.

Sàng lọc trước sinh và sơ sinh ở nước ta mới chủ yếu sàng lọc 2 bệnh: Thiếu men G6PD và suy giáp trạng bẩm sinh và ở một số nơi có sàng lọc thêm bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh trong khi trên thế giới đã sàng lọc trước sinh và sơ sinh từ năm 1957, có nước đã sàng lọc 48 bệnh.

Hà Anh Thực hiện

thuhuyen
Ý kiến của bạn

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.