Dân số và SKSS khu vực Đông Nam Á qua báo cáo tình trạng dân số TG 2003
Tháng 12/2003 Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) đã công bố báo cáo Tình trạng Dân số thế giới năm 2003.
![]() |
Theo báo cáo, năm 2003 dân số thế giới là 6.301,5 triệu người, trong đó khu vực Đông Nam Á có số dân là 543,2 triệu người, chiếm 8,62% dân số thế giới. Trong khu vực, Inđônêxia là nước đông dân nhất với 219,9 triệu người, chiếm 40,48% dân số của khu vực. Việt Nam là nước đông dân thứ hai của khu vực với số dân là 81,4 triệu, tiếp đó là Philíppin với 80 triệu người. Theo dự báo đến năm 2050, dân số thế giới là 8.918,7 triệu người, khu vực Đông Nam Á là 767,2 triệu người, chiếm 8,6%. Inđônêxia vẫn là nước đứng đầu khu vực về số dân với 293,8 triệu người, Philíppin sẽ là nước đông dân thứ hai với 127 triệu người và Việt Nam là 117,7 triệu người.
Bảng 1. Dân số khu vực Đông Nam Á 2003 và dự báo 2050
![]() |
Tốc độ tăng dân số bình quân của toàn thế giới giai đoạn 2000-2005 là 1,2%, khu vực Đông Nam Á là 1,4%. Trong khu vực, Căm-pu-chia là nước có tốc độ tăng dân số cao nhất với 2,4%, tiếp theo là Lào 2,3%, Malaixia 1,9%, Philíppin 1,8%. Các nước thực hiện tốt chương trình DS-KHHGĐ đều có mức tăng dân số thấp: Thái Lan là nước tăng thấp nhất trong khu vực với 1,0%, Inđônêxia và Việt Nam đều có mức tăng 1,3%.
Mặc dù có tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 2000-2005 cao hơn so với tốc độ tăng chung của toàn thế giới (1,4% và 1,2%) nhưng tổng tỷ suất sinh (TFR) của khu vực Đông Nam Á lại thấp hơn so với TFR của thế giới (2,55 và 2,69). Nhưng so sánh các nước trong khu vực thì mức sinh lại có sự chênh lệch rất lớn, có thể chia thành 3 nhóm như sau. Nhóm nước có mức sinh cao (TFR>3) có 3 nước là Lào (4,78), Căm-pu-chia (4,77), Philíppin (3,18). Nhóm nước có mức sinh trung bình (2,1<TFR<3) có 4 nước gồm Malaixia (2,9), Myanma (2,86), Inđônexia (2,35), Việt Nam (2,3). Nhóm nước có mức sinh thấp (TFR<2,1) có 2 nước là Thái Lan (1,93), Xinhgapo (1,36).
![]() |
Sau 9 năm thực hiện Chương trình hành động quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD-1994), các nước trong khu vực Đông Nam Á đã có nhiều cố gắng để thực hiện các mục tiêu ICPD.
Các chỉ báo về tử vong cho thấy tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh (trẻ em dưới 1 tuổi) trên 1000 trẻ sinh sống của khu vực là 41‰, thấp hơn nhiều so với bình quân chung của toàn thế giới (56‰). Nhưng so sánh trong khu vực thì tỷ lệ này có sự chênh lệch rất lớn giữa các nước. Nhóm có tỷ lệ chết trẻ sơ sinh cao gồm 3 nước: Lào (88‰), Myanma (83‰), Căm-pu-chia (73‰). Nhóm có tỷ lệ chết trẻ sơ sinh trung bình gồm 2 nước: Inđônêxia (42‰), Việt Nam (34‰). Nhóm có tỷ lệ chết trẻ sơ sinh thấp gồm 4 nước: Philíppin (29‰), Thái Lan (20‰), Malayxia (10‰), Xinhgapo (3‰). Đặc biệt Xinhgapo có tỷ lệ chết trẻ sơ sinh còn thấp hơn rất nhiều so với các khu vực phát triển hơn (8‰). Tỷ lệ tử vong bà mẹ (số phụ nữ chết do thai sản trên 100.000 số sinh ra sống) trong khu vực có mối quan hệ thuận với tỷ lệ chết trẻ sơ sinh, những nước có tỷ lệ chết trẻ sơ sinh cao thì cũng có tỷ lệ tử vong bà mẹ cao và những nước có tỷ lệ chết trẻ sơ sinh thấp thì cũng có tỷ lệ tử vong bà mẹ thấp. Duy nhất chỉ có Philíppin có tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh thấp nhưng lại có tỷ lệ tử vong bà mẹ cao. Những nước có tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và tỷ lệ tử vong bà mẹ cao cũng là những nước có tỷ lệ các ca sinh được hộ sinh chuyên nghiệp đỡ thấp (Căm-pu-chia 34%, Lào 21%). Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ các ca sinh nở với hộ sinh chuyên nghiệp cao so với các nước trong khu vực (70%). Tuổi thọ trung bình của nam/nữ trong khu vực đều cao hơn so với mức bình quân của thế giới (tương ứng là 64,4/69,1 và 63,3/67,6), nhìn chung những nước nào có tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và tỷ lệ tử vong bà mẹ cao thì tuổi thọ trung bình thấp, những nước nào có tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và tỷ lệ tử vong bà mẹ thấp thì tuổi thọ trung bình cao. (Bảng 3).
![]() |
Các chỉ báo về giáo dục cho thấy tỷ lệ dân số cả nam và nữ dưới 15 tuổi mù chữ còn cao ở Cam-pu-chia (20%/43%), Lào (24%/47%). Đặc biệt trong 9 nước thì có tới 6 nước có tỷ lệ chênh lệch mù chữ ở nữ cao hơn so với nam rất nhiều như Căm-pu-chia (43%/20%), Lào (47%/24%), Inđônêxia (18%/8%), Malaixia (17%/9%), Myanmar (20%/11%), Xinhgapo (12%/4%).
Về các chỉ báo sức khoẻ sinh sản, số ca sinh con tính theo 1000 phụ nữ trong độ tuổi 15-19 ở khu vực Đông Nam Á thấp hơn hơn so với mức bình quân của thế giới (42‰ so với 50‰). Có 4 nước có số ca sinh ở độ tuổi 15-19 khá cao như Lào (91‰), Căm-pu-chia (60‰), Inđônêxia (55‰), Thái Lan (49‰). Tỷ lệ áp dụng các biện pháp tránh thai (BPTT) chung và hiện đại của khu vực Đông Nam Á thấp hơn so với mức bình quân của thế giới. Tỷ lệ này có sự khác biệt khá lớn giữa các nước trong khu vực (Bảng 4). Nhìn chung những nước nào có mức sinh thấp và trung bình thì đều có tỷ lệ áp dụng các biện pháp tránh thai cao, duy nhất chỉ có Myanma có tỷ lệ áp dụng các biện pháp tránh thai thấp (33%) lại có mức sinh trung bình (2,86 con) và tốc độ tăng dân số thấp trong khu vực (1,3%). Trong số 3 nước có tỷ lệ áp dụng biện pháp tránh thai cao là Việt Nam (75%), Xinhgapo (74%), Thái Lan (72%) thì chỉ có hai nước có tỷ lệ áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại cao và gần như chiếm toàn bộ số người sử dụng biện pháp tránh thai là Xinhgapo (73%), Thái Lan (72%), tỷ lệ này ở Việt Nam chỉ đạt 56%. Tỷ lệ lây nhiễm HIV ở độ tuổi 15-24 ở cả nam và nữ ở các nước trong khu vực nhìn chung đều thấp hơn so với các nước châu Phi nhưng đều cao hơn so với các nước ở châu Á.
Nhìn chung, so với các nước thuộc các khu vực chậm phát triển (châu Phi, châu Mỹ La-tinh, vùng Ca-ri-bê, châu Á trừ Nhật Bản và Mêlanêdi, Micrônêdi, Pôlynêdi) thì các nước thuộc khu vực Đông Nam Á có các chỉ số về nhân khẩu học và sức khoẻ sinh sản đáp ứng được các mục tiêu của Chương trình hành động ICPD. Tuy nhiên, kết quả đạt được của các chỉ báo còn có sự khác biệt tương đối lớn giữa các nước trong khu vực. Điều đó đòi hỏi sự nỗ lực của từng nước trong việc đầu tư cho chương trình dân số, chăm sóc sức khoẻ sinh sản/kế hoạch hoá gia đình. n
Bảng 4. Các chỉ báo sức khoẻ sinh sản khu vực Đông Nam Á
![]() |
Bé gái 5 tuổi ngực to bất thường, phát hiện nang buồng trứng gây dậy thì sớm
Dân số và phát triển - 20 giờ trướcGĐXH - Ngực phát triển nhanh trong thời gian ngắn ở bé gái 5 tuổi khiến gia đình lo lắng. Kết quả thăm khám cho thấy trẻ bị nang buồng trứng phì đại, dẫn đến dậy thì sớm ngoại biên.
Cặp vợ chồng hiếm muộn phát hiện tinh trùng gần cạn kiệt sau 7 năm kết hôn
Dân số và phát triển - 2 ngày trướcGĐXH - Vợ chồng chị My đi khám hiếm muộn thì bất ngờ phát hiện người chồng bị tinh trùng suy giảm nghiêm trọng, gần như mất khả năng thụ thai tự nhiên.
Dân số Quảng Ninh: Tập huấn tuyên truyền viên măng non phát huy quyền tham gia của trẻ em
Dân số và phát triển - 2 ngày trướcGĐXH - Hoạt động này không chỉ trang bị kiến thức cần thiết cho trẻ em mà còn khẳng định vai trò của ngành y tế trong việc phối hợp liên ngành, chung tay xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho thế hệ tương lai.
Người phụ nữ 48 tuổi mắc u xơ tử cung, phải cắt bỏ tử cung vì 1 sai lầm nhiều chị em Việt mắc phải
Dân số và phát triển - 3 ngày trướcGĐXH - Phát hiện u xơ tử cung từ sớm nhưng chần chừ điều trị, người phụ nữ 48 tuổi phải cấp cứu trong tình trạng thiếu máu nặng, buộc cắt tử cung để bảo toàn sức khỏe.
Thai phụ 37 tuổi bất ngờ đẻ rớt tại nhà trọ, bé sơ sinh chào đời nặng 3kg
Dân số và phát triển - 4 ngày trướcGĐXH - Thai phụ 37 tuổi bất ngờ chuyển dạ khi đang ở nhà trọ, sinh con ngay trên nền gạch. Bé sơ sinh may mắn được ê kíp bác sĩ cấp cứu kịp thời, tránh biến chứng nguy hiểm.
Bé gái 2 tháng tuổi nhập viện vì u nang buồng trứng hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng
Dân số và phát triển - 5 ngày trướcGĐXH - Một bé gái 2 tháng tuổi được phát hiện u nang buồng trứng kích thước lớn hơn 10 cm, chiếm gần nửa ổ bụng. Nhờ can thiệp phẫu thuật nội soi kịp thời, bác sĩ đã loại bỏ khối u và bảo tồn thành công chức năng sinh sản cho trẻ.
Cụ bà 117 tuổi chăm ăn 3 cốc "thức ăn" này mỗi ngày, kết quả là không suy giảm nhận thức, mức độ viêm nhiễm thấp như người trẻ tuổi
Dân số và phát triển - 5 ngày trướcViêm nhiễm không chỉ xảy ra khi tuổi tác tăng lên!
Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư
Dân số và phát triển - 6 ngày trướcGĐXH - Sau 9 năm cắt tuyến giáp do ung thư tuyến giáp, một phụ nữ 40 tuổi may mắn sinh con khỏe mạnh nhờ thụ tinh ống nghiệm.
Vô sinh thứ phát 14 năm, cặp vợ chồng may mắn đón con sau thời gian chiến đấu nhiều bệnh lý phức tạp
Dân số và phát triển - 1 tuần trướcGĐXH - Sau 14 năm không thể mang thai, người vợ mắc u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung và ung thư tuyến giáp, người chồng không có tinh trùng do biến chứng quai bị, cặp vợ chồng vẫn đón con nhờ thụ tinh ống nghiệm.
U xơ vú có nên ăn đậu tương lên men? Bác sĩ chỉ rõ: Không phải ai cũng ăn được
Dân số và phát triển - 1 tuần trướcGĐXH - Đậu tương lên men được xem là thực phẩm tốt cho sức khỏe, nhưng với người có u xơ vú, việc ăn hay không lại không đơn giản. Theo chuyên gia, điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cụ thể của từng người.
Người phụ nữ 40 tuổi sinh con khỏe mạnh sau 9 năm cắt tuyến giáp chữa ung thư
Dân số và phát triểnGĐXH - Sau 9 năm cắt tuyến giáp do ung thư tuyến giáp, một phụ nữ 40 tuổi may mắn sinh con khỏe mạnh nhờ thụ tinh ống nghiệm.




