Đôi vợ chồng dân số vùng cao
Giadinh.net - Những người từng làm dân số ở Hà Giang đều biết đến vợ chồng ông Vừ Mí Tro. Điều đáng nói, họ nổi tiếng không phải vì ông là Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Giang kiêm Phó Chi cục trưởng Chi cục DS – KHHGĐ, mà bởi “nhân duyên”cả hai cùng sống và cống hiến hết mình cho sự nghiệp dân số.
Vừ Mí Tro sinh ra ở cao nguyên đá Đồng Văn vốn nổi tiếng nghèo đói. Năm 4 tuổi, cậu đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Một người anh họ đưa cậu về nuôi và cho ăn học. Bước ngoặt cuộc đời của cậu là vào năm 1960 được thoát ly đi học ở trường văn hoá huyện, học cấp 3 ở Việt Bắc, rồi học lên đại học Y, được về Hà Nội học 2 năm ở khoa Vệ sinh dịch tễ. Năm 1973, người anh họ mất. Họ hàng nháo nhào gọi ông Tro về để quản lý gia đình. “Lúc ấy tôi nghĩ, 3 năm nữa bạn bè cùng khoá đã tốt nghiệp ra làm bác sĩ cả. Nếu về quê, lấy vợ, quán xuyến gia đình… sau 3 năm có khi còn làm nhà nghèo hơn ấy chứ. Vì vậy tôi tiếp tục đi học”, ông Tro tâm sự.
![]() |
|
Ông Vừ Mí Tro trong lễ nhận Huân chương lao động hạng Ba (Ảnh: H.Việt Tiến). |
Ông Tro cho biết: Hà Giang có 22 dân tộc anh em cùng chung sống. Trong đó, người Mông chiếm hơn 30% dân số. Địa hình Hà Giang rất phức phức tạp, đi lại khó khăn. Đồng bào toàn sống ở các sườn đồi, sườn núi, thôn nọ cách thôn kia rất xa, có thôn cách trụ sở tới nửa ngày đường, nên việc đưa thông tin tới các xã rất chậm. Nhưng cái khó lớn nhất mà cán bộ dân số Hà Giang phải đối mặt, là sự bất đồng ngôn ngữ giữa cán bộ truyền thông và đồng bào.
Ông Tro là người Mông, thành thạo tiếng Mông và tiếng Kinh. Tiếng Tày tiếng Dao thì… bập bõm nên đã tranh thủ những dịp xuống cơ sở để học thêm tiếng để giao tiếp với bà con.
Đồng lòng vì sự nghiệp dân số vùng cao
Năm 1975, ông Tro đang học năm thứ 4 trường y, thì được lệnh đi chống dịch ở Quảng Ninh. Tại đây, ông gặp người mà sau này tình nguyện theo ông về Hà Giang “nâng khăn sửa túi”. Bà tên Lưu, vui vẻ góp chuyện: “Những năm đầu từ biển lên rừng, chưa quen phong thổ, tập quán, tiếng nói chưa thông tỏ nên tôi gặp nhiều khó khăn và rất vất vả để hoà nhập với mọi người xung quanh. Nhưng sau này, yêu người, yêu mảnh đất này nên cố học và hiểu được bà con làm gì, nói gì”.
![]() |
|
Vợ chồng ông Vừ Mí Tro (Ảnh: N.V.C.C). |
Bà Lưu kể, người Mông vốn hay kiêng kỵ, không muốn ai thấy chỗ kín. Bà nhiều lần phải giải thích để chị em hiểu và chấp nhận. Có lần, phát hiện đối tượng bị viêm nhiễm nên chưa thể đặt vòng, hẹn lần sau. Nhưng người này không nghe, bảo không đặt lần này thì lần sau họ không đi KHHGĐ nữa. Không biết giải thích làm sao, bà vừa giải thích vừa mô tả hết gần buổi sáng người đó mới thông tỏ. Hay có người sức khoẻ tốt, không viêm nhiễm nên không được cấp thuốc cũng thắc mắc: Sao người kia có thuốc, tôi không có thuốc? Lại phải giải thích. Có người nghe ra, nhưng có người không nghe ra thì đành phải cấp cho họ thuốc B1, cốt là để họ có lòng tin và lần sau lại đến với mình. “Nhà tôi trực tiếp đi cung cấp dịch vụ KHHGĐ từ khi bắt đầu có dịch vụ này. Các công việc KHHGĐ, bà ấy thành thạo hơn tôi nhiều”, ông Tro nói.
Năm 1996, ông Tro được điều lên tỉnh làm cán bộ. Xa xôi cách trở, nhưng cả hai xác định: Nhiệm vụ của Nhà nước phân công nên cố gắng phải hoàn thành. Tưởng ít năm thôi, ai dè cũng tới 9 năm xa cách. Thỉnh thoảng ông Tro xuống huyện thì vợ chồng mới được gặp nhau.
|
19 năm cống hiến cho ngành Y tế, 12 năm cống hiến cho ngành Dân số, ông Vừ Mí Tro đã được trao Kỷ niệm chương, được phong là Thầy thuốc ưu tú. Năm 2006 ông được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba; Huy chương Vì Sự nghiệp DS-KHHGĐ; Huy chương Vì Sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Huy chương Vì sự tiến bộ của phụ nữ, Kỷ niệm chương Vì Sự nghiệp thể dục thể thao; Kỷ niệm chương Vì Sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân, Huy chương Vì Sự nghiệp xây dựng Công đoàn, Ông là Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh 5 năm liền (2000 – 2005), và được UBND tỉnh tặng nhiều bằng khen, cờ thi đua xuất sắc. |

