Thâm cung bí sử (113-1): Duyên kỳ ngộ
GiadinhNet - Dịp lễ 2/9 vừa rồi, ông Nguyễn Văn Tùng ở Cầu Giấy, Hà Nội đi du lịch ở Sài Gòn. Năm nay TP HCM tổ chức bắn pháo hoa ở công viên Đầm Sen nên người về Sài Gòn du lịch đông hơn. Trong biển người chen chúc ấy, tôi nhìn thấy một ông già mặc quân phục, đi lại, ngơ ngác như kiếm tìm ai đó. Cảnh ấy chỉ diễn ra khoảng 1 giây thôi nhưng tôi cũng kịp nhận ra đó là ông Tùng.
Từ Sài Gòn ra ông Tùng đến thăm tôi và dẫn theo một người đàn bà có gương mặt phúc hậu, nói giọng Sài Gòn. “Giới thiệu với bác, đây là Khánh Hòa - vợ em”. Nghe ông Tùng giới thiệu, tôi thoáng giật mình vì không nghĩ ông lại có vợ nhanh thế. Nhưng dù sao tôi cũng thấy mừng cho bạn vì ông Tùng đã góa vợ 14 năm. Đàn ông sống độc thân tổn thọ lắm. Nhưng từ trước tới nay, tôi chưa từng nghe ông Tùng nhắc đến cái tên Khánh Hòa. Chả nhẽ chỉ mấy ngày du lịch mà hai người đã có thể kết nhau ngay được. Tôi hỏi ông Tùng: “Hai người biết nhau từ bao giờ?”.
Ông Tùng nhấp một ngụm trà rồi kể: “Chúng em biết nhau từ năm 1971. Lúc đó là tổng động viên, hàng loạt sinh viên gác bút nghiên ra trận. Ba lô của người lính lúc đó nặng khoảng 30kg, gồm gạo, lương khô, thịt hộp, đường, sữa, rau muống khô, rau cải khô, bí đỏ. Đến trạm giao liên thì từng tiểu đội nổi lửa nấu cơm ăn chung. Em đi được gần một tháng thì bị sốt rét. Ba lô và súng đạn đồng đội mang hộ, còn em thì hai tay chống gậy, cố lết đi mà cũng không theo kịp đội hình hành quân. Đến trạm Trà My, Quảng Nam thì đơn vị phải để em ở lại. Trường hợp đó gọi là lính thu dung. Lính thu dung thì ở lại trạm vài hôm, ăn uống, điều trị hết sốt rồi chờ có đơn vị nào đi qua thì nhập vào đó. Cùng ở trạm thu dung với em lúc đó còn có hai cậu nữa. Chúng em chờ mãi mà chẳng có đơn vị nào đi qua nên buồn quá mới rủ nhau trốn trại, đi về phía Nam tìm đơn vị. Chúng em đi đến Bù Đốp, Bình Phước thì em bị sốt lại. Người nóng như hòn than nên em phải trải võng nằm trên đất cho mát. Rồi em thấy lạnh cóng ở hai bàn chân, sau đó lạnh lên ống chân, đầu gối, rồi lên đùi, lên bụng. Khi thấy lạnh cứng lên đến vùng ngực là em biết mình sắp đi rồi. Em gọi mẹ hai lần, nước mắt trào ra giàn giụa. Hai cậu kia hoảng quá kêu lên: “Cậu không được chết. Cậu mà chết thì bọn tớ sợ lắm”. May sao lúc đó có một cô giao liên đi qua. Thấy ba đứa chúng em khóc mếu máo, cô ấy liền ghé vào xem thế nào. Cô ấy hỏi tình hình rồi tiêm cho em hai mũi và đưa cho một lọ cao sao vàng, dặn là xoa kỹ vào vùng ngực, vùng gáy cho nóng lên. Em nghe loáng thoáng giọng Sài Gòn và nhìn thấy một gương mặt trái xoan hơi xanh xao. Rồi em hết sốt và ở lại trạm Bù Đốp cho đến khi được nhập vào một đơn vị khác”.
(Còn nữa)
Tiểu phẩm của Khánh Hoàng