Điều tra đánh giá này được thực hiện trong hai năm 2010 và 2011 bởi Tổng cục Thống kê với sự phối hợp chặt chẽ với các bộ ngành liên quan và cơ quan Liên Hợp Quốc là UNICEF (Quỹ Nhi đồng), UNFPA (Quỹ Dân số), nhằm cung cấp một bức tranh tổng thể và cập nhật về tình hình trẻ em và phụ nữ ở Việt Nam.
Báo cáo cho biết, trong lĩnh vực dinh dưỡng, cứ gần như 4 trẻ em dưới 5 tuổi thì có 1 trẻ bị thấp còi, tức là thấp hơn chiều cao trung bình ở lứa tuổi của trẻ. Tỉ lệ thấp còi ở trẻ em dân tộc thiểu số cao gấp hai lần so với trẻ em đồng lứa dân tộc Kinh hoặc Hoa.
Trong lĩnh vực nước sạch và vệ sinh môi trường, các phát hiện của Điều tra MICS 2010-2011 cho thấy hơn 7 trong số 10 người ở Việt Nam được tiếp cận nước uống và công trình vệ sinh được cải thiện. Tuy nhiên, số người sống trong các gia đình dân tộc Kinh hoặc Hoa được tiếp cận các công trình vệ sinh này cao hơn 2 lần so với những người sống trong các gia đình dân tộc thiểu số.
Ông Đỗ Thức - Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê - nói: “Với hơn 20 chỉ tiêu thuộc Mục tiêu thiên niên kỷ (MDG) thu thập được và hơn 100 chỉ tiêu liên quan đến trẻ em và phụ nữ được tính toán, Điều tra đánh giá các mục tiêu phụ nữ trẻ em 2010-2011 ở Việt Nam cung cấp các thông tin định lượng quan trọng khẳng định những kết quả đã đạt được trong thực hiện Chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001–2010, Mục tiêu Thiên niên kỷ, Tuyên ngôn và Kế hoạch hành động Một thế giới phù hợp với trẻ em; đồng thời chuẩn bị cho Kế hoạch hành động, cũng như Chương trình hành động Quốc gia vì Trẻ em giai đoạn 2011–2020.”
|
Trong lĩnh vực tiêm chủng, báo cáo cho thấy ở Việt Nam hiện cứ 5 trẻ em trong độ tuổi từ 12 - 23 tháng thì chỉ có 2 em được tiêm phòng đầy đủ. Đồng thời cũng có khoảng cách lớn giữa khu vực thành thị và nông thôn, với 2 trẻ em thành thị thì có 1 em được tiêm chủng đầy đủ trong khi ở nông thôn tỉ lệ này là 1/3. |
Để có được bản báo cáo chất lượng, theo bà Lotta Sylwander, Trưởng đại diện UNICEF tại Việt Nam, việc Điều tra MICS4 tại Việt Nam được khởi động từ tháng 9/2010 với sự tham gia tận tâm của hàng trăm cá nhân và tổ chức.
“Tôi xin đặc biệt hoan nghênh công việc của “đội quân” các cán bộ phỏng vấn, những người đã đi khắp các vùng miền của đất nước, bất chấp cái nóng và ẩm của miền Nam hay những cơn mưa lạnh thấu xương và thậm chí là sương giá ở miền Bắc, phải đi lại trong điều kiện đôi khi là cực kỳ khó khăn để thu được những số liệu hết sức giá trị này” - Bà Sylwander nói.
Các số liệu mà MICS4 đưa ra sẽ tạo điều kiện cho các nhà hoạch định chính sách xác định và định hướng nguồn lực tới những nhóm dân cư đang cần được quan tâm nhất này và đây là trọng tâm của các nỗ lực phát triển chung. Điều này cũng cho phép những lợi ích có được từ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam đến được với phụ nữ và trẻ em thuộc mọi nhóm dân tộc, kinh tế và xã hội.
Ông Bruce Campbell - Trưởng Đại diện UNFPA Việt Nam - khẳng định, việc phân tích sâu các số liệu MICS4 sẽ góp phần đem lại những bằng chứng khoa học phục vụ công tác xây dựng chính sách và chương trình trong nhiều lĩnh vực phát triển khác nhau.
Điều này cũng hỗ trợ song hành với việc thu thập số liệu và phân tích từ các nguồn thông tin chính như Tổng Điều tra Dân số, Điều tra biến động dân số hàng năm và điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam. Theo ông Bruce, việc sử dụng các số liệu từ các nguồn thông tin này là cần thiết để hình thành các số liệu trước can thiệp chính xác mà qua đó có thể đo lường được những tiến bộ trong phát triển.
Trong khuôn khổ Một Liên Hợp Quốc, UNICEF, UNFPA và các tổ chức của LHQ đã cam kết tiếp tục hỗ trợ Chính phủ Việt Nam thông qua hỗ trợ cho Tổng cục Thống kê trong việc thực hiện Chiến lược phát triển thống kê quốc gia của Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
“Sử dụng số liệu quan trọng của Điều tra MICS sẽ giúp chúng ta xây dựng các hành động giải quyết vấn đề nghèo đói và bất bình đẳng – không chỉ nhằm nâng cao đời sống của trẻ em mà còn đóng góp vào một nền văn hóa nhân quyền và tăng cường mối liên kết xã hội ở Việt Nam” - Bà Sylwander nói.
|
Điều tra đánh giá cũng cung cấp số liệu về sức khỏe sinh sản của phụ nữ. Ví dụ, hầu hết phụ nữ ở độ tuổi 15-49 sinh nở trong 2 năm trước khi thực hiện điều tra đã được cán bộ chuyên môn chăm sóc sức khỏe trước khi sinh ít nhất là 1 lần và 2/3 được chăm sóc trước sinh 4 lần như khuyến nghị của bác sỹ. 9/10 ca sinh được thực hiện tại các cơ sở y tế.
Tuy nhiên, có sự chênh lệnh khá lớn giữa các dân tộc: hầu hết mọi phụ nữ dân tộc Kinh hoặc Hoa sinh nở ở cơ sở y tế, trong khi chỉ 3 trong số 5 phụ nữ dân tộc thiểu số mới sinh nở ở những nơi này.
Khoảng 1/3 phụ nữ được chăm sóc trước khi sinh được xét nghiệm HIV ở lần mang thai gần đây nhất. Tuy nhiên, số phụ nữ sống ở đô thị xét nghiệm cao gấp 2 lần so với phụ nữ sống ở nông thôn (56% so với 28%). |
Hà Anh