Đào tạo đội ngũ giảng viên toàn diện, có bài bản
|
Mặc dù luôn nhận được ủng hộ của người đứng đầu các địa phương, nhưng khi tiến hành xâm nhập thực địa, do là người “khai sơn phá thạch” nên GTZ vẫn vấp phải những bức tường định kiến - Đó là tư tưởng muốn sinh nhiều con vẫn ăn sâu trong ý nghĩ của đông đảo người dân. Song càng đối đầu với định kiến, những người tiên phong càng thấy cần thiết phải làm tốt dự án, để khai thông những tư tưởng còn lạc hậu, giúp vị thành niên tìm thấy con đường đi cho đúng, không “vấp phải bụi gai”... |
Tháng 9/1991, Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ CHLB Đức ký Hiệp định hợp tác kỹ thuật, quy định những khuôn khổ pháp lý để thực hiện các dự án hợp tác kỹ thuật giữa hai nước.
GTZ được chính phủ Đức ủy nhiệm thực hiện các dự án hợp tác kỹ thuật trên toàn thế giới trong đó có khoảng 30 dự án tại Việt Nam gồm nhiều lĩnh vực: y tế, dân số, chăm sóc và bảo vệ rừng, cải cách hành chính, cải cách ngân hàng, hỗ trợ xí nghiệp vừa và nhỏ...
Năm 1994, GTZ bắt đầu hỗ trợ Ủy ban Quốc gia Dân số KHHGĐ (ngày nay là Tổng cục DS - KHHGĐ) thực hiện dự án hợp tác kỹ thuật đầu tiên về y tế và dân số ở Việt Nam có tên là “Tăng cường sức khỏe gia đình”. Dự án này được thực hiện ở 5 tỉnh Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Bình Định và kéo dài 10 năm đến 12/2004 qua 3 chu kỳ. Dự án được cả 2 phía đối tác đánh giá là có hiệu quả tốt.
Bản Báo cáo tổng kết dự án “Tăng cường sức khỏe gia đình” 1994- 2004 của Ủy ban DS,GĐ&TE (cũ) đã đánh giá: “Dự án đã đào tạo được một đội ngũ giảng viên cấp tỉnh về SKSS (4-5 giảng viên/tỉnh) có đủ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm; trên 93% cán bộ cung cấp dịch vụ SKSS lâm sàng tuyến tỉnh, huyện và trung tâm y tế liên xã đã được đào tạo bài bản, toàn diện về SKSS/KHHGĐ, trên 95% cán bộ chuyên trách DS,GĐ&TE huyện, xã được đào tạo kiến thức cơ bản, kỹ năng truyền thông trực tiếp và tư vấn về SKSS - sức khỏe tình dục (SKTD), Dự án đã sớm tác động vào nhóm đối tượng thanh thiếu niên một cách bài bản thông qua chương trình giáo dục SKSS/SKTD... là sự lựa chọn đúng đắn, đón bắt trước được yêu cầu phát triển của chương trình DS-KHHGĐ của Việt Nam...”.
|
|
|
Một lớp đào tạo giảng viên trong dự án "Góp phần cải thiện dịch vụ y tế/SKSS ở Cao Bằng, Sơn La". |
Do hợp tác có hiệu quả với UBDSGĐ&TE (cũ) nên Chính phủ Đức thông qua GTZ lại tiếp tục hỗ trợ Tổng cục DS-KHHGĐ thực thiện dự án “Góp phần cải thiện dịch vụ y tế/SKSS ở 2 tỉnh Cao Bằng, Sơn La” từ 7/2006 đến 30/9/2010. Khu vực triển khai dự án là hơn 400 xã của 24 huyện của Cao Bằng và Sơn La.
Trọng tâm của dự án là đào tạo cho cán bộ y tế, dân số cấp tỉnh, huyện, xã về SKSS/KHHGĐ, phòng chống HIV/AIDS, Bảo hiểm y tế và nâng cao nhận thức của người dân thông qua các hoạt động truyền thông. Do dự án có độ bao phủ rất rộng, lại tiến hành ở 2 tỉnh miền núi có trên 85% là dân tộc thiểu số và rất nghèo nên cả 2 bên đối tác Đức và Việt Nam đều phải nỗ lực hết mình.
Quốc tế đánh giá cao hiệu quả của dự án
|
“Sau 15 năm làm việc cho GTZ tại các dự án hợp tác kỹ thuật về y tế và dân số tại VN, tôi thấy nhà tài trợ còn có một số điểm băn khoăn. Thứ nhất: Tính bền vững của dự án chưa được bảo đảm; Thứ hai: Chất lượng và việc sử dụng đầu ra chưa thực sự được quan tâm đúng mức; Thứ ba: Tính làm chủ của dự án đặc biệt ở cấp tỉnh, huyện chưa cao.
Tôi tin chắc rằng với ý thức cầu thị, chúng ta sẽ dần dần khắc phục được các điểm yếu đó theo đúng tinh thần của Tuyên bố Paris và Cam kết Hà Nội về hiệu quả viện trợ ODA”.
Ông Võ Văn Nhẫn
Phó Giám đốc Chương trình Y tế GTZ tại Việt Nam |
Trao đổi với PV Báo GĐ&XH về những thành tựu mà các dự án do GTZ hỗ trợ đã đóng góp cho công tác DS-KHHGĐ ở Việt Nam, ông Võ Văn Nhẫn - Phó Giám đốc Chương trình Y tế GTZ ở Việt Nam chia sẻ: “Phía Đức đánh giá rất cao sự hợp tác đầy hiệu quả của UBQGDS-KHHGĐ, UBDSGĐ&TE (trước đây) và Tổng cục DS-KHHGĐ ngày nay. Theo tôi thành tựu lớn nhất mà các dự án hợp tác kỹ thuật Đức mang lại là đã đào tạo bài bản nguồn nhân lực cho ngành y tế, dân số ở các tỉnh dự án (bao gồm các giảng viên tỉnh, huyện các cán bộ cung cấp dịch vụ SKSS các cấp từ tỉnh đến xã). Một đóng góp không nhỏ của dự án vào công tác DS là nâng cao nhận thức cho người dân thông qua hoạt động truyền thông như nói chuyện chuyên đề tại thôn bản, phát tờ rơi, hoặc qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Đặc biệt là dự án đã sớm đưa chương trình giáo dục SKSS-SKTD cho thanh thiếu niên (chủ yếu ngoài nhà trường) vào các tỉnh dự án theo một cách tiếp cận có hiệu quả”.
Hỏi về một kỷ niệm khi triển khai chương trình giáo dục SKSS-SKTD thanh thiếu niên ở các tỉnh dự án, ông Nhẫn kể: “Năm 1997, khi đi “vận động hành lang” cho chương trình giáo dục SKSS-SKTD thanh thiếu niên chúng tôi đã gặp không ít khó khăn. Một đồng chí Phó Chủ tịch huyện e ngại “Làm vậy (giáo dục SKSS-SKTD TTN) là vô tình vẽ đường cho hươu chạy”(?!). Thú vị nhất là một đồng chí Chủ tịch Hội LHPN tỉnh rất thành thật “Em sẽ chẳng cho con gái em đi học những lớp về SKSS-SKTD đó đâu. Chỉ nên dạy cho bố mẹ rồi bố mẹ dạy lại cho con thì tốt hơn”. Quả là “vạn sự khởi đầu nan”. Thời gian đầu, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, nhưng sau một thời gian triển khai, rất mừng là dự án được lãnh đạo Đảng, chính quyền, các đoàn thể quần chúng các cấp và nhân dân hết lòng ủng hộ vì mọi người đã hiểu, ý thức được lợi ích dự án đem lại. Lúc đó chúng tôi cảm thấy hạnh phúc lắm...”.
Mai Hương