|
|
|
Đồng chí Cao Thị Hải - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình trao bằng khen của Thủ tướng cho Chi cục DS-KHHGĐ Thái Bình. |
Khó khăn ban đầu
Năm 1961 dân số Thái Bình là 1.216.000 người, được xếp là 1 trong 6 tỉnh, thành phố ở miền Bắc có quy mô dân số trên 1 triệu người và tốc độ tăng dân số vào loại cao của cả nước.
Trải qua 50 năm, được sự quan tâm đầu tư của lãnh đạo chính quyền các cấp, sự bổ sung về kinh phí, đặc biệt rất nhiều giải pháp, mô hình đã được các địa phương trong tỉnh thực hiện để giảm tỷ lệ sinh và tỷ lệ sinh con thứ ba; trong đó nổi bật là năm 1975 Đại hội Đảng bộ tỉnh đã xác định cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch là một trong 4 hướng phấn đấu cơ bản của tỉnh.
Tuy nhiên các chỉ tiêu về công tác dân số của Thái Bình giảm chậm: tỷ lệ sinh con thứ ba vẫn ở mức cao 38% (1981), quy mô dân số vẫn tiếp tục tăng nhanh trên 1,8 triệu người, mật độ dân số đông (gần 1.200 người/km2) đứng thứ 6 toàn quốc, kết quả giảm sinh chưa ổn định và luôn có sự biến động, sự chênh lệch giới tính khi sinh có dấu hiệu ngày một nghiêm trọng (năm 2000 là 107 nam/100 nữ, 2010 là 113 nam/100 nữ, 10 tháng năm 2011 là 114 nam/100 nữ; chất lượng dân số còn nhiều bất cập; tốc độ già hóa dân số tăng nhanh (Thái Bình tỷ lệ 14%, cả nước là 9,8%); nhu cầu về cung cấp phương tiện, dịch vụ KHHGĐ ngày càng lớn, nhiều vấn đề SKSS cần tiếp tục giải quyết...
Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy làm công tác dân số không ổn định, nhiều lần sáp nhập rồi chia tách làm cho cán bộ dân số không yên tâm công tác gây ảnh hưởng không nhỏ đến thành tích công tác dân số.
Những thành tựu nổi bật
Để vượt qua những khó khăn và thách thức trên, 50 năm qua, cùng với sự cố gắng của ngành Dân số, lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, Ủy ban Nhân dân đã ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ. Đây là những văn bản quan trọng giúp cho công tác DS-KHHGĐ trên địa bàn tỉnh Thái Bình gặt hái được những thành tích đáng ghi nhận.
Tỷ lệ sinh giảm từ 4,7% (1961) xuống còn 2,17% (1991) và đến năm 2010 còn 1,4%, tỷ lệ sinh con thứ 3 giảm từ 38% (1981) xuống còn 11,35% (2010), số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ 6 con (1961) xuống còn 2,01 con (2010); 10 năm qua duy trì mức sinh thay thế;
Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên năm 2010 đạt 0,85%; Tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng biện pháp tránh thai tăng 78,9%; Tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng giảm xuống 18,0%;
Nhận thức của cộng đồng, đặc biệt là các cặp vợ chồng trẻ về qui mô gia đình ít con đã có chuyển biến rõ rệt; Số sinh và số người sinh con thứ 3 trở lên hàng năm giảm;
Số xã, phường, thị trấn, số thôn, làng, tổ dân phố không có người sinh con thứ 3 trở lên ngày càng nhiều; Từ năm 1991-2010, toàn tỉnh có 51 lượt xã, phường không có người sinh con thứ ba trở lên; Qui mô dân số tăng chậm lại, thậm chí một số xã, phường, thị trấn không tăng.
Chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức cao trong nhóm các tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước. Chất lượng dân số từng bước được cải thiện, tuổi thọ trung bình đạt 75 tuổi, thu nhập bình quân theo đầu người tăng, năm 2010 đạt 850 USD. Thái Bình cũng là một trong 9 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS năm 2002.
Ghi nhận thành tích về công tác DS-KHHGĐ của tỉnh Thái Bình, Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Lao động hạng ba năm 2000, Huân chương Lao động hạng Nhì năm 2006, Thủ tướng tặng Bằng khen năm 2010. Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba cho 2 cá nhân; Thủ tướng tặng bằng khen cho 3 cá nhân; 1 cá nhân được tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua toàn quốc cùng nhiều phần thưởng quý báu của Ủy ban nhân dân tỉnh; Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em; Tổng cục Dân số-KHHGĐ và Bộ Y tế.
Mục tiêu và giải pháp
Trong giai đoạn 2011 - 2020, mục tiêu của công tác dân số Thái Bình là nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản; duy trì mức sinh thay thế 1,8 con/1 bà mẹ. Tỷ suất sinh năm 2015 là 13,04‰, đến năm 2020 là 12,3‰. Giảm tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên xuống dưới 10%.
Giảm tốc độ gia tăng tỷ số giới tính khi sinh, khống chế ở mức 111 nam/100 nữ vào năm 2015 và 109 nam/100 nữ vào năm 2020; tỷ lệ người áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại đạt 80%; ổn định quy mô dân số; giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số; giảm dần tỷ lệ trẻ em sinh ra bị dị tật bẩm sinh góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân trong tỉnh.
Thực hiện được những mục tiêu trên đây, cần phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền, huy động sự tham gia của toàn xã hội thực hiện công tác dân số và sức khỏe sinh sản.
Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân số và sức khỏe sinh sản; tăng cường các dịch vụ sàng lọc trước sinh và sau sinh để chẩn đoán, can thiệp sớm tật, bệnh ở thai nhi và trẻ sơ sinh; tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác dân số, sức khoẻ sinh sản từ tỉnh đến cơ sở.
Nguyễn Mạnh Cường
(Chi cục DS-KHHGĐ Thái Bình)