Mức sinh thấp - Tác động và kinh nghiệm các nước trên thế giới
GiadinhNet - Ngày 27/3 tới, tại Hà Nội, Tổng cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế) sẽ tổ chức“Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm về chính sách ứng phó với xu hướng giảm sinh”.
Hội thảo thu hút sự tham gia của đông đảo các chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực Dân số trong nước và quốc tế, các tổ chức xã hội, các ban ngành đoàn thể có liên quan.
Nhân dịp này, Giadinh.net.vn trân trọng đăng tải loạt bài viết của thạc sỹ Lương Quang Đảng (Tổng cục DS-KHHGĐ) chia sẻ về bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới ứng phó với xu hướng giảm sinh...
Những hệ lụy thấy trước
Khoảng cách về mức sinh giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển là rất lớn. Tổng tỷ suất sinh trên thế giới hiện nay là 2,5 con, mức sinh còn cao tại nhiều quốc gia, vùng, đặc biệt là châu Phi. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ có mức sinh quá thấp dưới 1,3 con, thậm chí 0,9 con . Để có cái nhìn đa chiều về mức sinh trên thế giới, đặc biệt là mức sinh thấp tại một số quốc gia và vùng lãnh thổ, bài viết dưới đây nhằm cung cấp thông tin tới bạn đọc về mức sinh hiện nay trên thế giới, các giai đoạn chuyển đổi nhân khẩu học và một số vấn đề liên quan đến mức sinh thấp.
Để đo lường mức sinh của một dân số, các nhà nhân khẩu học thường sử dụng các chỉ báo: Tỷ suất sinh thô (CBR-Crude Birth Rate), tỷ suất sinh chung (GFR-General Fertility Rate), tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR-Age Specific Fertility Rate) và tổng tỷ suất sinh (TFR-Total Fertility Rate). Tại Việt Nam, các nhà quản lý thường sử dụng thêm chỉ báo chỉ tiêu tỷ lệ giảm sinh.
Khoảng cách lớn
Trong bài viết này, xin được sử dụng chỉ báo tổng tỷ suất sinh (TFR). TFR được hiểu là số con trung bình sinh ra còn sống của một phụ nữ trong suốt cuộc đời của mình nếu qua các năm sinh đẻ, họ tuân theo các tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi của một năm nhất định hoặc để đơn giản hơn, ta nói TFR là số con trung bình của một phụ nữ. Theo “2011 World Population Data sheet” của Population Reference Bureau, TFR năm 2011 của thế giới là 2,5 con. Nếu chia theo mức độ phát triển của các nước thì TFR của nhóm nước phát triển là 1,7 con, trong khi nhóm nước kém phát triển là 4,5 con nhóm còn nước đang phát triển là 2,6-3,0 con.
Như vậy, khoảng cách về mức sinh giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển là rất lớn. Trong khi nhóm các nước đang và kém phát triển chưa đạt mức sinh thay thế thì đối với nhóm các nước phát triển mức sinh đã dưới mức sinh thay thế rất nhiều. Nếu chia theo khu vực địa lý thì khu vực có TFR thấp nhất là châu Âu với 1,6 con và cao nhất là châu Phi với 4,7 con.
![]() |
![]() |
Tuy nhiên, trong số 85 quốc gia và vùng lãnh thổ đạt được mức sinh thay thế thì có tới 55 quốc gia và vùng lãnh thổ (chiếm gần 65%) có mức sinh từ 1,8 con trở xuống, có những nơi TFR rất thấp, từ 1,3 xuống đến 0,9 con như: Đài Loan (0,9), HongKong (1,1), Macao (1,1), Hàn Quốc (1,2), Singapore (1,2), Andorra (1,2), Latvia (1,3), Bosnia (1,3), Portugal (1,3), San Marino (1,3)…
Mức sinh thay thế là mức sinh mà một đoàn hệ phụ nữ trung bình có vừa đủ số con gái để “thay thế” mình trong dân số. Người ta thường dùng TFR trong khoảng 2,1 con để được coi là mức sinh thay thế. Sở dĩ không dùng TFR = 2,0 vì thông thường và tự nhiên, số trẻ nam sinh ra lớn hơn trẻ nữ và không phải tất cả nữ đều sống qua hết những năm sinh đẻ. Nếu TFR quá thấp so với mức 2 con thì dân số đó sẽ không phát triển (không bao gồm di cư). Như vậy, những quốc gia và vùng lãnh thổ có TFR quá thấp, thậm chí chỉ còn 0,9 con thì dân số tại các quốc gia và vùng lãnh thổ đó không phát triển.
Cùng với sự gia tăng tuổi thọ thì dân số tại các khu vực này ngày càng già nua và quy mô dân số ngày càng thu hẹp, dẫn đến những hệ luỵ vô cùng lớn không chỉ cho dân số nói riêng mà cho cả xã hội và sự phát triển thịnh vượng của quốc gia nói chung.
![]() |
Dựa vào các chỉ báo về mức sinh, mức chết của “2011 World Population Data sheet” thì dân số thế giới đang ở thời giai đoạn 3 (CBR = 20%o, CDR = 8%o). Dân số của các châu lục đang ở các thời kỳ như sau:
![]() |
|
Các nhà nhân khẩu học trên thế giới đã chia quá trình đó thành các giai đoạn khác nhau hoặc 3, 4 hoặc 5 giai đoạn. Mặc dù có sự khác nhau về số lượng giai đoạn chuyển đổi nhưng các học thuyết đều có điểm chung về xu hướng chuyển đổi nhân khẩu học là ở thời kỳ đầu mức sinh và mức chết đều rất cao. Sau đó mức chết giảm xuống nhanh chóng nhờ những cải thiện trong y tế, nước sạch và vệ sinh. Trong khi đó, mức sinh vẫn còn cao và giảm rất chậm. Đến thời kỳ cuối của quá trình chuyển đổi, mức sinh và mức chết đều giảm xuống mức rất thấp. |
Thạc sỹ Lương Quang Đảng



