Nơi có bếp lửa ấm

| Xã hội

GiadinhNet - Ngủ ôm súng nhưng tôi vẫn có một gia đình. Đó là ngọn lửa giấu trong que diêm mẹ cho ngày tôi ra trận.

Tranh minh họa của Nguyên Mỹ

 
Tôi nhập ngũ ngày 15/2/1965. Sáng hôm đó, mẹ đưa cho tôi một bao diêm được bọc kỹ trong túi nilon và nói: “Bao diêm này chỉ có 1 que thôi. Mẹ có mỗi mình con thôi, cho con ra nơi hòn tên mũi đạn như đem que diêm duy nhất ra đánh trước gió bão. Mẹ sợ lắm. Nhưng con là nam nhi thì không được sợ”.

Đoàn quân đi về phía Nam. Trước mặt chúng tôi, thành phố Vinh đang ngùn ngụt cháy sau trận bom của giặc Mỹ. Sau lưng chúng tôi, những cô gái lần đầu biết yêu, đứng nhìn theo và lặng lẽ khóc. Phải là một dân tộc anh hùng mới có những người con gái biết khóc một cách trang nghiêm như vậy. Cũng phải là một dân tộc anh hùng mới có những người mẹ dám đem que diêm duy nhất ra đánh trước gió bão. Từ ngày đó, cuộc đời tôi gắn liền với chiến hào, từng phút từng giây đối diện với cái chết. Câu thơ của bạn tôi viết về người lính trong cuộc chiến tranh:

           “Đồng đội tôi đi qua tuổi Hai mươi
                Ngủ ôm súng suốt một thời trai trẻ”.

Ngủ ôm súng nhưng tôi vẫn có một gia đình. Đó là ngọn lửa giấu trong que diêm mẹ cho ngày tôi ra trận. Que diêm trong túi ngực luôn nhắc tôi rằng tôi có một mái nhà tranh, trong đó có một người mẹ đêm đêm nuốt thầm nước mắt chờ tôi chiến thắng trở về. Trong những trận đánh quyết liệt nhất, que diêm mẹ cho vẫn ấm trong ngực tôi, hình ảnh mẹ luôn sáng trong tim tôi, thành nguồn sức mạnh để tôi sống không hổ thẹn suốt 10 năm đạn lửa.

Rồi tôi chiến thắng trở về. Đó là một đêm khuya khoắt. Tôi bước thập thững về làng. Đêm không trăng sao, trời tối như mực nhưng bàn chân của đứa con trai không bao giờ quên lối về nhà mẹ. Trong nhà có ánh lửa. Mẹ tôi đang ngồi bên bếp, bóng Người hắt lên vách như một pho tượng đen. “Mẹ! Sao giờ này mẹ vẫn thức?”. Mẹ ôm chầm lấy tôi, xoa đầu tôi, nước mắt mẹ rơi xuống mặt tôi, sao ấm thế!

Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi ra trận mà không có một người mẹ đêm đêm thao thức, nuốt nước mắt đợi tôi về? Thật hạnh phúc khi chúng ta đã có một gia đình, có một ngọn lửa ấm trong tâm can, có một mái rạ và những con người để ngày đêm ta thương nhớ. Lý tưởng chiến đấu của một thế hệ không có gì cao xa mà chỉ là những mái nhà, những người mẹ lưng áo bạc phếch mồ hôi muối, những người con gái lặng lẽ khóc khi ta khoác súng lên vai ra đi.

Tôi hạnh phúc vì sau chiến thắng còn được về với mẹ. Còn có hàng triệu đồng đội tôi không trở về. Các anh nằm lại ở đâu đó trong những cánh rừng bạt ngàn Tây Nguyên, trên các kênh rạch vùng Nam Bộ, dưới lòng sông Thạch Hãn, để lại những người mẹ héo hon vì nhớ thương con, những người vợ khóc cạn nước mắt vì nhớ thương chồng. Câu thơ của bạn tôi viết ở Quảng Trị:

           “Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
            Đáy sông còn đó bạn tôi nằm”.

Các gia đình Việt Nam đã kiên cường đối mặt với một đế quốc hùng mạnh nhất hành tinh trong suốt 10 năm dài. 10 năm, các gia đình Việt Nam 10 lượt tiễn con trai mình ra trận. 10 năm, mẹ tôi cắn hạt gạo làm ba, một phần để ăn, hai phần gửi ra mặt trận.

Sau chiến tranh, chúng ta đã mơ tới một cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc. Có tài liệu đã ghi rằng đến năm 1980, Việt Nam sẽ có 21 triệu tấn lương thực, mỗi người Việt Nam có 5 quả trứng gà tươi mỗi ngày và gia đình nào cũng có ti vi, tủ lạnh. Nhưng sự giàu mạnh đã không đến vào thập niên 80. Hạt gạo quý như vàng.
 
Thầy tôi ở trường ĐH Vinh thách đối sinh viên khoa Ngữ Văn bằng một vế đối đẩy ngậm ngùi: “Năm 80, gạo 80, dân Nghệ da vàng như nghệ”. Lạm phát xấp xỉ 900%, cả nước chia nhau từng cân gạo, lạng thịt, từng giọt dầu. Tôi về phép, không có tiền để mua cho mẹ một manh áo lụa, trong ba lô chỉ có một cân đường, một lạng mì chính, năm lạng kẹo mua theo tem phiếu. Vậy mà vợ tôi vẫn mừng. Mẹ tôi nhai trầu, đôi môi tươi hơn mọi ngày. Mỗi gia đình là một tế bào của đất nước, tế bào có khỏe mạnh thì cơ thể mới cường tráng, mới đủ sức vượt qua những thách thức khắc nghiệt của chiến tranh và những năm bao cấp nghèo hơn cả chữ nghèo.

Sau 25 năm đổi mới, đời sống các gia đình VN đã được nâng lên 12 lần. Những thứ mà nhiều thập niên trước người Việt Nam không thấy cả trong giấc mơ thì bây giờ trở thành những thứ bình thường nhất. Hôm qua, một người vợ trẻ nói với chồng: “Chồng con bạn em vừa mua một chiếc E300, gần 3 tỷ đồng. Nhà mình thì một cái bánh xe cũng không có”. Hôm nay có người vừa than thở: “Các công ty kinh doanh địa ốc đang bán tháo một loạt biệt thự, có người mua tới 3 cái, ước gì mình có tiền để mua một cái”. Trong sự so bì và những lời than thở đó có hơi hớm về sự tăng trưởng kinh tế. Nếu kinh tế gia đình không tăng trưởng thì không ai dám mơ tới E300 và biệt thự hàng chục tỷ đồng.

Có người từng viết: “Sự so sánh về đời sống vừa tạo nên động lực phấn đấu, vừa đẻ ra bi kịch”. 10 năm chiến tranh, cả nước đội bom đạn mà sống và đó là giai đoạn mọi gia đình đều hóa anh hùng. 10 năm cực khổ nhất của nền kinh tế bao cấp các gia đình Việt Nam vẫn rất bền chặt. Bát cơm vơi độn nhiều khoai sắn, bữa ăn ít cá nhiều rau nhưng quanh bếp lửa ấm trong mỗi căn nhà vẫn đầy ắp tiếng cười và khi ta hôn người vợ yêu, trái tim vẫn đập rạo rực.
 
Giờ đây các gia đình giàu hơn nhưng sự bền chặt lại ít hơn. Tỷ lệ phá thai của nước ta cao nhất khu vực, tỷ lệ ly hôn tăng nhanh từng năm. Ngày xưa, các gia đình VN sống với nhau hoàn toàn bằng tình thương và tình yêu. Bây giờ trong gia đình VN lúc nào cũng lởn vởn cái bóng của đồng tiền. 10 năm chiến tranh, các bà vợ kiên trinh đợi chồng. 10 năm cực khổ nhất của thời kỳ bao cấp, trong các gia đình Việt, cơm vẫn lành, canh vẫn ngọt. Bây giờ chuyện bạo lực gia đình trở thành vấn nạn của xã hội.
 
Năm 2010, số vụ ly hôn ở nước ta tăng 23%, trong đó 64% số vụ do người vợ đứng đơn. Trước đây, người đàn ông chỉ cần đóng vai trò người chiến binh dũng cảm là đã đủ làm rung động trái tim người đẹp. Bây giờ, đức lang quân phải đóng vai trò nhà cung cấp – cung cấp nòi giống và cung cấp tài chính. Nếu anh không làm trọn cả 2 vai trò đó thì gia đình có nguy cơ tan vỡ. Trước sức công phá của bom đạn, gia đình hóa thiêng liêng và rất bền chặt. Còn trước sức công phá của đồng tiền, gia đình trở nên quá mong manh.
 
Sau chuyến thăm Bắc Âu trở về, đồng chí Lê Khả Phiêu nói với bạn đọc báo Gia đình & Xã hội trong một cuộc phỏng vấn đặc biệt: Bi kịch lớn của các nước Bắc Âu là gia đình truyền thống đã tan vỡ hoàn toàn, còn gia đình hiện đại thì không bền vững. Đời sống rất cao, nhưng tỷ lệ người tự tử cũng cao chưa từng thấy.
 
Ăng ghen đã nói rằng: “Nhân loại đạt được một bước tiến về nền văn minh vật chất thì lại phải chịu một bước lùi tương đối về văn hóa, tinh thần”. Một việc vô cùng quan trọng của công cuộc đổi mới là chúng ta phải chống lại cái bước lùi “tương đối” đó. Vì thế mà trong nhiều năm qua chúng ta đã đề ra và kiên trì thực hiện chiến lược xây dựng gia đình bền vững.
 
Những thành tựu mà chúng ta đạt được là rất đáng tự hào và đã được Liên Hiệp Quốc ghi nhận, nhất là việc giảm tỷ lệ sinh và việc xóa đói giảm nghèo. Song, lại có những vấn đề mới. Nạo phá thai tuổi vị thành niên chiếm tỷ lệ rất cao, dự báo sự suy đồi về lối sống. Mất cân đối giới tính ở mức báo động, dự báo sự lệch lạc lớn về văn hóa. Bạo lực gia đình chưa hề giảm, đó là tín hiệu cấp cứu về đạo đức. Cuộc sống luôn nảy sinh mâu thuẫn và làm cách mạng là giải quyết mâu thuẫn. Trách nhiệm của những người làm công tác dân số kế hoạch hóa gia đình chưa bao giờ không nặng nề.

Lại một lần nữa ta thắp hương nén hương thơm thảo trên bàn thờ tổ tiên. Bằng máu và mồ hôi, tổ tiên ta đã tạo lập một giang sơn gấm vóc, những miền châu thổ rực rỡ phù sa với những thôn làng trù phú, có bóng tre xanh ôm những nếp nhà sớm chiều ấm áp khói lam, thao thức tiếng gà và ngọt ngào lời ru của mẹ. Thời gian đã trang nghiêm điểm phút giao thừa. Gần 87 triệu người VN lại quần tụ dưới những mái nhà có bếp lửa ấm, từng cháy sáng từ đời này qua đời khác, từng ấm áp suốt 4000 năm không tắt. Ta bỗng thấy mình có một niềm hạnh phúc vô bờ, đó là gia đình, nơi ta sinh ra và là bến đỗ cuối cùng của cuộc đời mỗi chúng ta.

Hoàng Hữu Các

baocuoituan
Bình luận (0)
Ý kiến của bạn

Cùng chuyên mục

Gần hai thập kỷ mòn mỏi chờ đất giãn dân ở Hà Đông: Khi nào người dân được an cư?

Gần hai thập kỷ mòn mỏi chờ đất giãn dân ở Hà Đông: Khi nào người dân được an cư?

Thời sự -

GĐXH - Đất đã giải phóng mặt bằng, hạ tầng kỹ thuật hoàn thiện từ lâu nhưng hàng nghìn người dân tại hai khu dân cư Xa La và Vạn Phúc (phường Hà Đông, Hà Nội) vẫn chưa thể nhận đất xây nhà. Gần 20 năm chờ đợi qua nhiều thời kỳ thay đổi chính sách, giấc mơ an cư của người dân nơi đây vẫn đang bị "treo" bởi những nút thắt pháp lý.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.