|
Tư vấn kiến thức làm mẹ an toàn cho phụ nữ. Ảnh: Dương Ngọc |
Tiêu đề báo cáo cũng là sự phát triển chủ đề Ngày Dân số thế giới 11/7/2012: “Tiếp cận phổ cập các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản”.
Tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, sự quan tâm, hỗ trợ các nguồn lực cho công tác DS-KHHGĐ ngày càng tăng. Một trong những mục tiêu lớn là tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ tránh thai cho mọi đối tượng, phục vụ tốt hơn những phụ nữ muốn trì hoãn hoặc ngừng sinh con để giảm gánh nặng mang thai ngoài ý muốn, tránh được nhiều trường hợp tử vong, tai biến liên quan đến sản khoa.
Nhu cầu sử dụng các BPTT hiện đại tăng
|
Tiết mục đoạt giải Nhất - Liên hoan tuyên truyền viên Dân số khu vực miền Trung của đội Lâm Đồng. Ảnh: PV |
Một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự chuyển đổi về KHHGĐ là sự gia tăng sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT) sẵn có thông qua các chương trình dân số của mỗi chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân.
Việc sử dụng các BPTT hiện đại của phụ nữ có chồng ở các nước đang phát triển tăng từ mức không đáng kể vào năm 1960, lên khoảng 47% vào năm 1990, lên 55% vào năm 2000 và ổn định ở mức này vào năm 2009.
Trong năm 2012, phụ nữ chưa có chồng là một nhóm đối tượng lớn, quan trọng, chiếm tới 26% số phụ nữ độ tuổi 15- 49 tại các nước đang phát triển (chủ yếu nữ vị thành niên và nữ thanh niên 15-24 tuổi). Tại các nước đang phát triển, trong số phụ nữ có nhu cầu sử dụng các BPTT, phụ nữ chưa có chồng sử dụng sản phẩm này thấp hơn 20% so với số phụ nữ có chồng. Ở châu Á, sự khác biệt này là 31%, ở Mỹ Latinh và vùng Caribê 10% và ở 69 nước nghèo nhất là 20%. Tình huống đảo ngược ở Tiểu-Sahara Châu Phi- nơi tỷ lệ phụ nữ chưa chồng có nhu cầu sử dụng BPTT hiện đại cao hơn 19% so với phụ nữ có chồng- Đây là dấu hiệu cho thấy động lực mạnh mẽ của đối tượng này muốn phòng tránh mang thai trước hôn nhân, phòng tránh HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Bao cao su là biện pháp chủ yếu được phụ nữ chưa có chồng sử dụng trong khu vực này.
Năm 2012, ước tính khoảng 222 triệu phụ nữ ở các nước đang phát triển có nhu cầu nhưng chưa được đáp ứng về các BPTT hiện đại.Tỷ lệ phụ nữ có chồng có nhu cầu nhưng chưa được đáp ứng về các BPTT hiện đại là 18% ở các nước đang phát triển. Tỷ lệ này là 30-37% ở Tây Phi, Trung Phi, Đông Phi, Tây Á, 22-24% ở Nam Á và vùng Ca-ri-bê...
Ý nghĩa nhân bản không thể đong đếm
|
CTV Dân số Tuy Hòa - Phú Yên phát tờ rơi tuyên truyền KHHGĐ cho ngư dân vùng biển. Ảnh: Dương Ngọc |
Chi phí cung cấp dịch vụ tránh thai đối với phụ nữ có nhu cầu sử dụng ngày càng tăng.Việc đảm bảo dịch vụ toàn diện, chất lượng cao cho tất cả người sử dụng có ý nghĩa rất quan trọng. Kinh phí chi cho các dịch vụ này sẽ đem lại những lợi ích to lớn về sức khỏe, kinh tế cho phụ nữ, gia đình, xã hội.
Chi phí cho việc cung cấp dịch vụ này trong năm 2012 ước tính khoảng 2 tỷ USD cho các đối tượng tại các nước đang phát triển (bao gồm chi phí liên quan đến cung cấp BPTT nói chung, công tác giám sát, đào tạo cán bộ, vận động thực hiện KHHGĐ, xây dựng cơ sở vật chất, phát triển hệ thống hậu cần và quản lý).
Năm 2012 ước tính 121,6 triệu trẻ em được sinh ra ở các nước đang phát triển, trong đó 3,1 triệu em bị chết trong vòng 28 ngày kể từ khi chào đời và 2,5 triệu em chết trước khi tròn 1 tuổi. Khoảng 800 nghìn ca tử vong trẻ sơ sinh và 600 nghìn ca tử vong trẻ dưới 1 tuổi liên quan đến mang thai ngoài ý muốn. Sử dụng BPTT hiện đại đã giúp ngăn chặn được khoảng 1,1 triệu ca tử vong trẻ sơ sinh và 700 nghìn ca tử vong trẻ dưới 1 tuổi.
Các chuyên gia cho biết: Vào năm 2008, cứ mỗi 1 USD bỏ ra để đáp ứng nhu cầu về các BPTT hiện đại đã tiết kiệm được 1,4 USD để chi phí chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh. Ở cấp độ đó, với 4 tỷ USD trong năm 2012 dành để đáp ứng nhu cầu này sẽ giúp tiết kiệm khoảng 5,6 tỷ USD cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh. Nếu chi thêm 4,1 tỷ USD để đáp ứng nhu cầu của tất cả phụ nữ về các BPTT hiện đại sẽ giúp tiết kiệm thêm khoảng 5,7 tỷ USD.
Để thành công trong việc đáp ứng nhu cầu tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS-KLHHGĐ của phụ nữ, các Chính phủ và các bên liên quan cần giải quyết một số yếu tố, bao gồm cả luật pháp, chính sách, hệ thống cung cấp dịch vụ, những rào cản đang cản trở việc đối tượng tiếp cận, sử dụng các dịch vụ. Cần lồng ghép việc cung cấp các dịch vụ tránh thai vào các dịch vụ y tế- chăm sóc SKSS; Duy trì nguồn cung cấp tại các địa phương; Xây dựng năng lực cung cấp dịch vụ, nâng cao chất lượng chăm sóc SKSS cho mọi đối tượng.
Khi các nguồn lực bổ sung đã sẵn có, điều rất quan trọng là theo dõi sự tiến bộ hướng tới đáp ứng các nhu cầu tránh thai của phụ nữ- một bước cần thiết để điều chỉnh quá trình thực hiện. Cần đảm bảo trách nhiệm sử dụng các nguồn lực, theo dõi và giám sát, thu thập số liệu từ các cá nhân, các nhà cung cấp, các cơ sở y tế và hệ thống y tế tại các cấp của mỗi quốc gia, khu vực và toàn cầu. Muốn việc giám sát phù hợp, được thực hiện, duy trì lâu dài, các nhà tài trợ và các Chính phủ cần sẵn sàng đầu tư thu thập số liệu cơ bản, phân tích số liệu trong các hệ thống để đảm bảo việc cung cấp dịch vụ KHHGĐ có chất lượng cao, đảm bảo.
|
>Lợi ích của việc thực hiện KHHGĐ rất lớn. Nó xuất phát từ khả năng của phụ nữ và các cặp vợ chồng muốn có thời gian mang thai phù hợp với cuộc sống của họ và chu cấp cho con cái những hội tốt nhất về sức khỏe và phúc lợi. Nếu mỗi phụ nữ sau khi sinh con ít nhất hai năm mới mang thai tiếp theo, thì tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi giảm 13%; nếu sau ba năm, tỷ lệ đó sẽ giảm 25%.
>Chính phủ các nước cần có những can thiệp "ngoài KHHGĐ" để giải quyết các yếu tố xã hội cản trở việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại. Tiếp cận các dịch vụ KHHGĐ và sức khỏe sinh sản là một vấn đề sức khỏe, nhưng cũng là vấn đề công bằng xã hội và phát triển con người. Đó là một quyền cơ bản của con người để phụ nữ thụ hưởng đầy đủ bình đẳng về pháp luật, bình đẳng về cơ hội và với một bé gái sinh ra ngày hôm nay, ở bất kỳ quốc gia nào, có triển vọng cuộc sống giống như mọi bé trai. Khi nhu cầu của phụ nữ về dịch vụ KHHGĐ, sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục không được đáp ứng, sẽ làm giảm sút cơ hội của họ hoàn tất việc học tập, tham gia phát triển hoạt động kinh doanh sản xuất và thoát khỏi đói nghèo. |
Võ Anh Dũng (Trung tâm Thông tin và tư liệu dân số - Tổng cục DS-KHHGĐ)