Bệnh giọng ở giáo viên
Bệnh giọng là bệnh nghề nghiệp thường gặp ở người làm việc trong ngành giáo dục, với khoảng 11% các giáo viên (GV) đang bị bệnh giọng và khoảng 58% các GV có bị bệnh giọng trong suốt cuộc đời dạy học của mình. Ngoài ra, bệnh giọng còn có tác động xấu đến việc dạy học và khả năng đứng lớp, với khoảng 43% GV phải giảm bớt việc đứng lớp; và hàng năm có khoảng 18% các GV bị mất việc do bị bệnh giọng.
Nguyên nhân tăng tần suất bệnh giọng
Một nguyên nhân của thực trạng tăng tần suất bị bệnh giọng ở GV là vì họ phải sử dụng giọng nhiều trong giảng dạy. Ở các GV có tố bẩm gây bệnh giọng, tổn thương dây thanh có thể xảy ra sau khi có rung dây thanh quá mức. Rất nhiều GV phát âm to tiếng trong một thời gian dài mà không có thời gian nghỉ đủ để bồi hoàn. Điều này góp phần làm tăng sự rung dây thanh quá mức. Để tránh cái vòng luẩn quẩn này, cần có định mức giới hạn rung dây thanh cho GV làm tiêu chuẩn cho các giải pháp điều trị bệnh giọng. Tuy vậy, sự hiểu biết về các giải pháp điều trị còn rất ít trước khi có các kết quả thành tựu nghiên cứu mới đây.
Các thành tựu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên
Trong 4 năm gần đây, các nhà nghiên cứu về giọng ở các viện nghiên cứu khác nhau đã cùng nhau phối hợp thực hiện các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, nhằm lượng giá hiệu quả của các giải pháp điều trị bệnh giọng. Nỗ lực phối hợp nghiên cứu đã thực hiện thành công 3 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên với sự tham gia của các GV. Ở 3 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên này, các GV bị bệnh giọng được xếp nhóm theo cách ngẫu nhiên (nhóm điều trị và nhóm chứng).
Các GV có 4 đợt điều trị, mỗi đợt 6 tuần bởi chuyên viên điều trị bệnh giọng. Trước khi được áp dụng một đợt điều trị 6 tuần, mỗi GV tham gia phải điền đầy đủ vào Bảng chỉ số tổn thương giọng (Voice Handicep Index -VHI) để tìm kiếm tác nhân tâm lý gây bệnh giọng.
Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên 1: Dùng liệu pháp chăm sóc dây thanh (vocal hygiene-VH) và liệu pháp luyện dây thanh (vocal function exercises-VFE), sau đó so sánh các kết quả ở nhóm điều trị với nhóm chứng. Trái với liệu pháp chăm sóc dây thanh, liệu pháp luyện dây thanh có hiệu quả hỗ trợ, phục hồi quy trình phát âm sau khi bệnh nhân tham dự một chương trình huấn luyện dây thanh đầy đủ. Kết quả của thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên 1 chỉ ra rằng chỉ có nhóm GV có dùng liệu pháp VFE mới có kết quả cải thiện (chỉ số VHI giảm). Các tác giả tỏ ra nghi ngờ về hiệu quả của liệu pháp VH khi dùng đơn thuần.
Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên 2: Dùng liệu pháp bộ khuếch đại âm cá nhân (portable voice ampilification-VA) và liệu pháp chăm sóc dây thanh. Việc mang bộ khuếch đại âm khi nói giúp giảm mức rung dây thanh cho GV. Các đánh giá so sánh trước và sau điều trị cho thấy chỉ có nhóm GV dùng liệu pháp VA có giảm các chỉ số VHI. Nhóm chứng (không có điều trị) có thể biểu hiện giọng xấu đi theo các chỉ số VHI.
Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên 3: Dùng liệu pháp cộng hưởng (Resonance therapy RT) và so sánh với liệu pháp luyện cơ hô hấp (Respiratory muscle training-MRT) ở các nhóm GV được chọn ngẫu nhiên. Liệu pháp RT huấn luyện GV bị bệnh giọng biết cách tập trung phát âm về phía trước, tạo sự rung chủ yếu ở vùng trung tâm mặt. Mục tiêu của liệu pháp RT là cho tiếng nói mạnh với mức căng dây thanh tối thiểu. Liệu pháp RMT giúp tăng lực các cơ hô hấp cho mạnh hơn để bệnh nhân bị bệnh giọng tạo dòng khí thở ra với áp lực mạnh hơn. Nhờ các cơ hô hấp mạnh hơn, lực kháng ở thanh quản được trung hòa nhờ có bù trừ và giảm nguy cơ bị tổn thương thanh quản. Để thực hiện liệu pháp RMT, cần có thiết bị đo áp suất để đánh giá lực tăng ở các cơ hô hấp.
Phân tích kết quả từ 3 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên trên cho thấy chỉ các GV có điều trị bằng liệu pháp VA (mang bộ khuếch đại âm cá nhân) hay RT (liệu pháp cộng hưởng) mới có giảm chỉ số VHI. Các phát hiện này, tương tự như những nghiên cứu thử nghiệm trước đó, khẳng định tính hiệu quả của liệu pháp dùng bộ khuếch đại âm cá nhân và liệu pháp cộng hưởng trong điều trị bệnh giọng cho GV.
Tóm lại, các nghiên cứu dịch tễ học và các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên trong thời gian gần đây đã không chỉ báo động thực trạng nguy cơ bị bệnh giọng ở GV mà còn giúp cho việc điều trị bệnh có hiệu quả tối ưu.
Theo Sức khỏe & Đời sống