Những số phận không may mắn
|
Cách đây chưa lâu, một đoàn du khách Mỹ gồm 38 người đã đến Việt Nam trong một chuyến du lịch có tên là “Hành trình về nguồn”. Những hành khách đặc biệt này trên 30 tuổi, đa số đã lập gia đình, có một cuộc sống ổn định. Khác chăng chỉ là họ có một mối liên hệ từ tuổi ấu thơ với Việt Nam và khi trở về quê hương họ đã là những người trưởng thành. Chuyến về TP HCM chỉ kéo dài 2 ngày nhưng có điều chắc chắn chuyến trở về mang nhiều ý nghĩa đối với những người lúc ra đi chỉ là những đứa trẻ còn khóc oe oe trên các chuyến bay bão táp. |
Sau khi có lệnh di tản trẻ mồ côi, trẻ con lai ở Sài Gòn của Chính phủ Mỹ, một chiến dịch di tản quy mô lớn đã được triển khai. Bà Leann Thieman, một nhân viên tình nguyện của chiến dịch này, kể lại: “Chúng tôi không có thì giờ cho trẻ ăn, các em nhỏ thì cứ 3 em được đặt trong thùng giấy carton, mỗi em có một bình sữa đặt trên vai người bạn nằm cùng thùng. Với cách này, có em bú thoải mái nhưng cũng có em gặp khó khăn khi bình sữa rơi khỏi miệng…”.
Người lớn đi theo gồm nhân viên phi hành đoàn và những người tình nguyện. Bà Miriam Vieni, một người hoạt động xã hội cũng là mẹ nuôi của một trẻ mồ côi người Việt, nhớ lại: “Điều kì lạ là sau khi biết thông tin về chiến dịch di tản, số cuộc gọi từ những gia đình có nhu cầu nhận con nuôi liên tục đổ dồn. Họ mong nhận nuôi những trẻ Việt qua Chiến dịch Operation Babylift dù khi đó các em còn chưa lên máy bay”.
Cặp vợ chồng Pat và Dave Palmer từ Iowa (Mỹ) kể lại việc làm thủ tục nhận con nuôi: “Khi nộp đơn xin con nuôi, chúng tôi phải tiến hành thủ tục một cách mau lẹ. Chúng tôi phải dùng đến điện tín để liên lạc và kết quả là chúng tôi có một cậu con nuôi 1 tuổi. Cuộc đời chúng tôi đã thay đổi từ đó”.
Tại Úc, trong bản báo cáo về tình trạng nhận con nuôi qua Chiên dịch Operation Babylift, Ian Harvey cho biết: “Tháng 4/1975, khi có tin nước Úc sẽ tiếp nhận trẻ mồ côi Việt Nam làm con nuôi, rất nhiều gia đình người Úc đã nộp đơn. Riêng tại bang New South Wales là nơi đến của 14 trẻ Việt nhưng số đơn xin nhận con nuôi đã vượt con số 4.000”. Theo báo cáo Ian Harvey, có trên 90% gia đình Úc có con nuôi người Việt ghi nhận sự thành công của việc họ nhận con nuôi. Tuy nhiên, đối với những gia đình tiếp nhận con nuôi từ 4 tuổi trở lên gặp khó khăn hơn những người khác vì càng lớn trẻ mồ côi càng khó thích nghi hơn với cuộc sống mới.
|
Những ánh mắt trẻ thơ nhìn qua cửa sổ máy bay rời quê hương. Ảnh: T.L |
Cho đến bây giờ, vẫn chưa có con số chính xác trẻ mồ côi được di tản khỏi Sài Gòn. Có khoảng 2.000 trẻ được đưa sang Mỹ, khoảng 1.300 trẻ được di tản đến Canada, châu Âu và Úc. Lúc đó, dư luận Mỹ bị phân hóa vì những quan điểm đối chọi nhau về Operation Babylift. Bà Miriam Vieni giải thích về những ý kiến tương phản nhau trong việc đưa trẻ mồ côi người Việt sang Mỹ: “Một số người cho rằng đưa trẻ em ra khỏi quốc gia nơi các em sinh sống là sự vi phạm quyền thiêng liêng của con người khi các em chưa đủ trí khôn để quyết định. Một số người lại nghĩ những trẻ mồ côi người Việt phải được chính người Việt giải quyết. Trên TV, một số khác đưa ra trường hợp tại sao không chiếu cố đến trẻ mồ côi người Mỹ gốc Phi còn đang chờ các gia đình Mỹ nhận nuôi?”.
Về phía các gia đình Mỹ nhận con nuôi người Việt cũng có những suy nghĩ cho rằng những đứa con mà họ nuôi nấng, dạy dỗ bấy lâu nay vẫn còn một hố sâu ngăn cách vô hình. Một cuộc khảo sát cho thấy, những trẻ mồ côi có một cuộc sống khá đầy đủ trong suốt thời kỳ thơ ấu. Nhưng đến giai đoạn trưởng thành, những đứa trẻ mồ côi ngày nào sẽ có những suy nghĩ, dằn vặt về cội nguồn.
Tiếng “Má ơi, má ơi” vang lên hàng chục năm sau
|
Hình ảnh một một số trẻ mồ côi trong chuyến về Việt Nam mang tên “Hành trình về nguồn”.Ảnh: TL |
Nguyễn Thị Thanh Trúc là một trẻ thuộc Viện Mồ côi tại Ghềnh Ráng, Quy Nhơn, Bình Định. Năm 1975, Thanh Trúc được Operation Babylift đưa sang Mỹ làm con nuôi một gia đình tại Seattle, tiểu bang Washington. Với cái tên Julie, Thanh Trúc được nuôi dạy và lớn lên như bất kỳ một đứa trẻ nào ở Mỹ. Khác biệt duy nhất là Julie có vóc người châu Á nhỏ bé hơn so với bạn bè.
Hiện nay Julie đã lập gia đình với Brad Davis và trở thành bà Julie Davis. Lần đầu tiên trở về Việt Nam cùng chồng trong nửa tháng trời, Julie kể lại: “Chuyến bay từ Mỹ về Việt Nam kéo dài hơn 20 giờ mà tôi có cảm tưởng dài đến 20 năm. Khi phi cơ đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất, Brad vỗ vai tôi, ý nhị: “Chúng ta đã đến nơi. Em đã về nhà’… Sau khi đi thăm TP HCM, Đồng bằng sông Cửu Long, chúng tôi về lại Quy Nhơn và đến tận Viện mồ côi Ghềnh Ráng để thăm lại nơi xuất xứ của tôi…”.
Cô nhi viện Ghềnh Ráng tọa lạc trong khuôn viên một nhà thờ và do các nữ tu phụ trách. Qua người thông dịch, Julie tìm lại được bà sơ Emilienne, người đứng tên trên giấy khai sinh của Thanh Trúc. Người nữ tu chỉ biết mẹ của Thanh Trúc đã qua đời ngay sau khi sinh con nên bà đứng tên trên giấy khai sinh. Cội nguồn của Julie chỉ có thế nhưng cũng đủ để cô tìm hiểu về quá khứ của mình. Cuộc hội ngộ nào rồi cũng đến lúc chia tay. Julie viết: “Cuộc hành trình ngắn ngủi để tìm lại quá khứ của tôi đã chấm dứt nhưng dư âm của nó vẫn còn vĩnh viễn đọng lại trong tôi. Giờ thì tôi tự hào là người có gốc, cho dù nguồn gốc đó cách nơi tôi sinh sống đến nửa vòng Trái đất”.
Tháng 4/2013, NXB Trẻ đã cho ra mắt tập phóng sự “Những mảnh đời được ban tặng - Chiến dịch không vận trẻ em Việt Nam 1975” của tác giả Dana Sachs (Hoàng Nhương dịch), tác giả đã thuật nhiều câu chuyện cảm động, trái khoáy trong chiến dịch này. Hoàng Anh, một bà mẹ với một nách 7 người con di tản từ cao nguyên miền Trung vào Sài Gòn trong những ngày giữa tháng 4/1975. Không “kham” nổi bầy con trong lúc loạn lạc, cô đã được một nhân viên trong tổ chức di tản trẻ mồ côi đồng ý cho các con cô đi Mỹ. Các nhân viên tại đây bắt Hoàng Anh phải viết giấy, ký tên đồng ý cho con của mình làm con nuôi nhưng Hoàng Anh một mực lắc đầu và dặn đứa con gái lớn hãy thay mẹ trông nom các em.
Đến khoảng những năm 1995, Hoàng Anh được bảo lãnh đi Mỹ và bắt đầu hành trình đi tìm lại những đứa con. Cô liên lạc với Hội Chữ thập đỏ và được biết, một người con của cô đang sống tại Great Falls, bang Missouri. Sau bao nhiêu năm, đứa con của cô mới bật ra được tiếng gọi: Má, Má ơi!, khi nhìn thấy cô, trong nước mắt chan hòa.
Hoàng Anh lại bắt đầu hành trình đi tìm ba người con còn lại, hai trong số đó đã được đưa đến một trung tâm nuôi dưỡng nhưng không rõ địa điểm. Người con thứ ba tên là Đoàn Văn Bình, đã được một cặp vợ chồng ở Towa nhận nuôi, ngay lập tức Hoàng Anh liên lạc với cặp vợ chồng này. Hốt hoảng vì viễn cảnh sẽ… mất con, cặp vợ chồng liền viết thư năn nỉ Hoàng Anh hãy xem xét lại việc đòi con. Sau đó, cặp vợ chồng này từ chối việc trả con cho Hoàng Anh và sự việc đã được đệ trình lên tòa án TP Iowa.
Sáu tháng sau, Tòa án tối cao Iowa đã phán quyết rằng cặp vợ chồng này phải trả con lại cho bà Hoàng Anh. Để đi đến phán quyết này, tòa án đã lập luận rằng, bà Hoàng Anh chưa từng bao giờ viết giấy cho những đứa con này làm con nuôi. Tòa án đã nói: Chúng ta hoàn toàn không thể xem việc bà Hoàng Anh từ bỏ con mình, có thể hiểu là một dấu hiệu bà ấy đã bỏ rơi chúng. Ngược lại, việc tìm kiếm con cái không biết mệt mỏi của bà ấy ở đất nước này, là biểu hiện một cách xác thực ý định muốn thực hiện những trách nhiệm và bổn phận làm mẹ”.
Quốc Định