Hà Nội
23°C / 22-25°C

Chiến lược DS/SKSS Việt Nam giai đoạn 2011-2020: "Sợi chỉ đỏ" là nâng cao chất lượng dân số

Chủ nhật, 06:08 27/12/2009 | Dân số và phát triển

Giadinh.net - Tại cuộc Hội thảo lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo lần thứ nhất “Chiến lược DS/SKSS Việt Nam, giai đoạn 2011-2020”, do Tổng cục DS-KHHGĐ tổ chức, phóng viên Báo GĐ&XH đã có cuộc phỏng vấn GS, TS Nguyễn Đình Cử - Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội, Trường Đại học Kinh tế quốc dân xoay quanh việc xác định vấn đề cốt lõi cho Chiến lược mới.

GS.TS Nguyễn Đình Cử.

Thưa Giáo sư, chỉ còn một năm nữa là kết thúc Chiến lược Dân số Việt Nam, 2001-2010, ông có thể cho biết triển vọng đạt được mục tiêu của Chiến lược này?

-  Có thể nói, chúng ta đã thực hiện thành công Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010, vì về cơ bản đã đạt được cả hai mục tiêu cụ thể của Chiến lược này, tức Tổng tỷ suất sinh (TFR) ở mức 2,11 vào năm 2005 và Chỉ số phát triển con người (HDI) không ngừng tăng lên. 

Tuy nhiên, thành công của chúng ta chưa trọn vẹn. Nếu xét ở cấp độ vùng và tỉnh thì còn nhiều vùng/tỉnh không đạt được mục tiêu của Chiến lược. Cụ thể là, theo phân tích và đánh giá của chúng tôi, đối với mục tiêu thứ nhất, có tới 25 tỉnh đã hoặc sẽ không đạt được mức sinh thay thế vào thời điểm Chiến lược đề ra: Năm 2005 (các tỉnh đồng bằng) và 2010 (các tỉnh tỉnh vùng sâu, vùng xa và vùng nghèo). Thêm nữa, đến năm 2010, ít nhất cũng có 7 tỉnh không thể đạt mục tiêu thứ hai, tức là HDI không thể đạt mức 0,7.

Tình hình nói trên đã chia các tỉnh của Việt Nam thành 2 nhóm: Nhóm thứ nhất có trình độ phát triển cao, mức sinh thấp và nhóm thứ hai có trình độ phát triển thấp nhưng mức sinh cao. Đây là một thách thức cần được xử lý trong Chiến lược mới. 

Thưa giáo sư, bối cảnh kinh tế - xã hội nào cần nhấn mạnh khi xây dựng Chiến lược DS/SKSS giai đoạn 2011-2020?

-  Bối cảnh kinh tế -  xã hội 10 năm tới sẽ có những nét khác căn bản so với  bối cảnh Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001 -  2010. Chẳng hạn, về kinh tế, thể chế kinh tế thị trường sẽ hoàn thiện hơn; nước ta sẽ hội nhập sâu rộng hơn vào đời sống kinh tế thế giới và ra khỏi danh sách các nước nghèo... Về xã hội, có nhiều tiến bộ, như:  Y tế, giáo dục phát triển; tỷ lệ đi học ở các nhóm tuổi trẻ đều cao, đặc biệt là tỷ lệ học sinh nữ ở tất cả các cấp học, bậc học đều tương đương tỷ lệ học sinh nam; đô thị hóa diễn ra nhanh hơn; truyền thông đại chúng phát triển mạnh mẽ, nhất là Internet có sức cuốn hút thanh, thiếu niên; các hình thức giao lưu văn hóa Đông - Tây đa dạng hơn... Về môi trường, cùng với công nghiệp hóa, tài nguyên sẽ dần cạn kiệt; môi trường, nhất là môi trường nước bị ô nhiễm nặng nề và biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng rõ rệt... Bối cảnh phát triển nói trên, vừa mang lại cơ hội, vừa chứa đựng nhiều thách thức đối với việc cải thiện tình trạng DS/SKSS ở nước ta. Do đó, cần được tính đến một cách sâu sắc trong Chiến lược mới.
 
Nâng cao chất lượng dân số phải thể hiện tất cả các giai đoạn của vòng đời mỗi người (Ảnh: TL).
 
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
TFR 2.28 2.25 2.28 2.12 2.23 2.11 2.1 2.07 2.08
Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4 hàng năm - Tổng cục Thống kê.
 
Thế còn những đặc điểm nổi bật nhất hiện nay của tình trạng dân số và SKSS của nước ta là gì, thưa Giáo sư?

 - Những đặc điểm nổi bật của dân số Việt Nam mà chúng ta đã nói từ lâu là quy mô dân số lớn, mật độ dân số rất cao; mất cân bằng giới tính khi sinh thì cũng đã thấy từ kết quả Tổng Điều tra dân số và nhà ở 1999. Theo tôi, đặc điểm mới và nổi bật nhất, khác căn bản với thời chúng ta xây dựng Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 là: Việt Nam đã duy trì được xu thế giảm sinh một cách vững chắc và đạt mức sinh thay thế liên tục từ năm 2005 đến nay. Khẳng định này có thể gây tranh cãi nhưng nếu chúng ta xem xét quá trình giảm Tổng tỷ suất sinh (TFR) trong gần thập niên vừa qua thì sẽ rõ (xem box).

Mặc dù có một vài thời điểm mức sinh “lên xuống” với biên độ dao động nhỏ nhưng nhìn chung, xu thế giảm sinh rõ ràng đã được duy trì. Tôi vẫn thường ví đây là “viên bi trong lòng máng” (viên bi có thể  dao động lên xuống nhưng đó là sự dao động trong lòng một cái máng hẹp và đặt ở tư thế dốc xuống). Việt Nam duy trì được xu thế giảm sinh vững chắc là do kiên trì chính sách giảm sinh và những tiến bộ nhanh chóng về kinh tế - xã hội.

Đặc điểm nổi bật thứ hai là chất lượng dân số chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta tăng dần nhưng chưa bao giờ lọt vào tốp 100 nước có HDI cao nhất trong tổng số gần 200 nước so sánh. Đặc biệt là chất lượng dân số khi sinh còn nhiều thách thức. Tỷ lệ mắc bệnh, tật do rối loạn chuyển hóa và di truyền ở trẻ sơ sinh, tử vong sơ sinh còn cao; suy dinh dưỡng trẻ em thể thấp còi đang là vấn đề cấp bách; gia tăng tình trạng trẻ em thừa cân, rối nhiễu tâm thần, tự kỷ, tiểu đường...        

Tình trạng SKSS có thể coi là một nội dung của chất lượng dân số cũng đang có nhiều vấn đề, như: Tử vong mẹ, số ca phá thai và vô sinh còn nhiều, nhiễm khuẩn đường sinh sản khá phổ biến; tỷ lệ người bị bệnh lây truyền qua đường tình dục - HIV và ung thư đường sinh sản còn khá cao...

Từ những tình hình như trên, theo Giáo sư  đâu là vấn đề cốt lõi nhất mà Chiến lược DS/SKSS giai đoạn 2011 – 2020 cần tập trung giải quyết?

- Để trả lời câu hỏi này, cần chú ý rằng: Việt Nam có hàng trăm chiến lược (chiến lược quốc gia, chiến lược của ngành, của địa phương), bao trùm là chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, Chiến lược DS/SKSS cần xác định đúng vị trí vai trò của mình trong hệ thống các chiến lược nói trên để tránh trường hợp “lấn sân”. Chiến lược DS-KHHGĐ (1993- 2000) chỉ giải quyết vấn đề số lượng dân số thông qua giảm sinh. Chiến lược Dân số Việt Nam 2001 - 2010, vẫn đề ra mục tiêu giải quyết vấn đề số lượng dân số và coi đây là mục tiêu số 1 nhưng đã bắt đầu đặt ra mục tiêu số 2 là giải quyết vấn đề chất lượng dân số.

Với các chú ý nêu trên và việc trình bày trong trả lời những câu hỏi trước, có thể nhận thấy rằng, vấn đề cốt lõi nhất mà Chiến lược DS/SKSS lần này cần giải quyết là chất lượng dân số. Nó phải là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt Chiến lược, từ mở đầu cho đến các phụ lục của Chiến lược, đặc biệt được thể hiện trong quan điểm, mục tiêu, giải pháp và hoạt động.

Khi lựa chọn “sợi chỉ đỏ” là chất lượng dân số, Chiến lược DS/SKSS sẽ giải quyết được toàn bộ vấn đề này?

- Không! không một chiến lược nào có thể giải quyết toàn bộ vấn đề chất lượng dân số, vì chất lượng dân số liên quan đến nhiều khía cạnh: Thể chất, trí tuệ và tinh thần. Chất lượng dân số liên quan đến nhiều đối tượng: Bào thai, sơ sinh, trẻ em dưới 6 tuổi, dân số 6- 24 tuổi (đi học), vị thành niên, người lao động, người cao tuổi...

Vì vậy tôi nghĩ, đây là vấn đề của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và nhiều chiến lược bộ phận. Mỗi chiến lược bộ phận sẽ đóng góp một phần vào việc nâng cao chất lượng dân số, như: Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, Chiến lược giáo dục, Chiến lược phát triển dạy nghề; Chiến lược phát triển văn hoá,... Còn chiến lược DS/SKSS có thể tập trung vào chất lượng dân số khi sinh và SKSS của toàn bộ dân số.

Cuối cùng, tôi muốn nói rằng, giữa số lượng và chất lượng dân số có mối quan hệ chặt chẽ. Trước đây ta đẩy mạnh KHHGĐ cũng nhằm nâng cao chất lượng dân số. Ngày nay ta tập trung nâng cao chất lượng dân số thì cũng không thể không thực hiện tốt KHHGĐ, nhất là ở các địa phương mức sinh còn cao.

Thưa Giáo sư, ông có cho rằng Chiến lược DS/SKSS giai đoạn 2011-2020 là một “cuộc cách mạng” trong lĩnh vực này hay không?

- Nhiều công việc sẽ là tiếp nối truyền thống nhưng có nhiều cái phải phát triển, sẽ có nhiều cái mới. Chẳng hạn, lĩnh vực truyền thông, trước đây ta nói: “Gái hay trai, chỉ 2 là đủ” nhưng bây giờ phải nói: “Gái hay trai, chỉ 2 chất lượng cao”. Như vậy, truyền thông và dịch vụ giai đoạn tới không chỉ sao cho mỗi cặp vợ chồng có 2 con mà còn là 2 con chất lượng cao. Và chất lượng cao phải thể hiện ở tất cả các giai đoạn của vòng đời mỗi người, từ bào thai cho đến khi trở thành người cao tuổi.

Xin cảm ơn Giáo sư!

Hà Anh
(Thực hiện)
thuhuyen
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận
Ý kiến của bạn
5 biện pháp tránh thai nội tiết phổ biến nhất và những điều chị em cần biết

5 biện pháp tránh thai nội tiết phổ biến nhất và những điều chị em cần biết

Dân số và phát triển - 1 ngày trước

Trong thế giới hiện đại, việc chủ động kế hoạch hóa gia đình là chìa khóa vàng giúp phụ nữ làm chủ cuộc sống. Dưới đây là 5 biện pháp tránh thai nội tiết phổ biến nhất, hiệu quả và an toàn.

Thai phụ suýt tử vong, buộc phải cắt toàn bộ tử cung vì sai lầm khi tự ý dùng thuốc phá thai

Thai phụ suýt tử vong, buộc phải cắt toàn bộ tử cung vì sai lầm khi tự ý dùng thuốc phá thai

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Tai biến diễn tiến nhanh do tự ý dùng thuốc phá thai tại nhà buộc ê kíp phải phẫu thuật cấp cứu và cắt toàn bộ tử cung để cứu sống bệnh nhân.

Trí tuệ nhân tạo dự đoán biến chứng sức khỏe ở trẻ sinh non

Trí tuệ nhân tạo dự đoán biến chứng sức khỏe ở trẻ sinh non

Dân số và phát triển - 3 ngày trước

Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong chăm sóc trẻ sinh non đang mở ra một kỷ nguyên mới cho ngành Nhi khoa. Thay vì chỉ phản ứng khi triệu chứng xuất hiện, AI giúp các bác sĩ dự đoán và có hướng xử trí biến chứng từ sớm.

Vô sinh không do bệnh lý: 4 nguyên nhân bất ngờ đến từ lối sống nhiều người thường chủ quan

Vô sinh không do bệnh lý: 4 nguyên nhân bất ngờ đến từ lối sống nhiều người thường chủ quan

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

Khi nhắc đến vô sinh, hiếm muộn, nhiều người thường nghĩ ngay đến các vấn đề phức tạp tại tử cung, buồng trứng hay chất lượng tinh trùng kém do bệnh lý. Tuy nhiên, ít người biết rằng những thói quen sinh hoạt tưởng chừng vô hại lại đang âm thầm tước đi cơ hội làm cha mẹ của nhiều cặp đôi.

Khi nào nên làm xét nghiệm Pap để sàng lọc ung thư cổ tử cung?

Khi nào nên làm xét nghiệm Pap để sàng lọc ung thư cổ tử cung?

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

Xét nghiệm Pap (hay Pap smear) là một xét nghiệm quan trọng để sàng lọc ung thư cổ tử cung. Thời điểm và tần suất thực hiện thường phụ thuộc vào độ tuổi, tiền sử sức khỏe của người phụ nữ.

Hưng Yên: Dấu ấn công tác dân số vùng biển và ven biển năm 2025

Hưng Yên: Dấu ấn công tác dân số vùng biển và ven biển năm 2025

Dân số và phát triển - 6 ngày trước

GĐXH - Chi cục Dân số và Trẻ em tỉnh Hưng Yên đã triển khai đồng bộ nhiều hoạt động với cách làm linh hoạt, phù hợp đặc thù vùng biển và ven biển. Nổi bật là các mô hình truyền thông và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS), kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) và nâng cao chất lượng dân số.

Đau bụng dưới cảnh giác với xoắn buồng trứng

Đau bụng dưới cảnh giác với xoắn buồng trứng

Dân số và phát triển - 6 ngày trước

Xoắn buồng trứng xảy ra chủ yếu với phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, tuy nhiên bệnh có thể xuất hiện ở cả phụ nữ mãn kinh, trẻ em thậm chí là trẻ sơ sinh.

Nhận biết dấu hiệu thụ thai thành công: Khi nào cơ thể bắt đầu thay đổi?

Nhận biết dấu hiệu thụ thai thành công: Khi nào cơ thể bắt đầu thay đổi?

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

Sau khi quá trình thụ tinh diễn ra, cơ thể người phụ nữ không thay đổi ngay lập tức mà cần một khoảng thời gian để các hormone bắt đầu kích hoạt. Việc theo dõi sát sao các thay đổi, dù là nhỏ nhất sẽ giúp bà mẹ có kế hoạch chăm sóc sức khỏe kịp thời.

6 lý do khiến phụ nữ bị đau bụng kinh dữ dội

6 lý do khiến phụ nữ bị đau bụng kinh dữ dội

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

Co thắt nhẹ hay đầy hơi khi hành kinh là bình thường nhưng nếu đau bụng kinh dữ dội hoặc có thể kèm chảy máu ồ ạt, đó có thể là dấu hiệu bệnh lý phụ khoa nguy hiểm cần đi khám ngay.

Công tác dân số năm 2025: Dấu mốc 'về đích' quan trọng, tạo nền tảng cho giai đoạn mới

Công tác dân số năm 2025: Dấu mốc 'về đích' quan trọng, tạo nền tảng cho giai đoạn mới

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Chiều 22/1, Cục Dân số (Bộ Y tế) tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026. Tham dự và chỉ đạo Hội nghị có Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên, lãnh đạo các vụ, cục, đơn vị thuộc Bộ Y tế cùng đại diện các cơ quan báo chí Trung ương và Hà Nội.

Top