Người phụ nữ 20 năm sống chung với sa tử cung vì nghĩ bệnh không thể chữa
GĐXH - Suốt 20 năm, bà Thiêm, 70 tuổi, chấp nhận sống chung với khối sa tử cung và bàng quang gây vướng víu, bất tiện vì nghĩ đây là bệnh tuổi già không thể điều trị.
Nghĩ sa tử cung là bệnh tuổi già, chịu đựng suốt 20 năm
Theo thông tin từ Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, người bệnh sa tử cung là bà Thiêm, từng sinh hai người con. Sau mỗi lần sinh, bà chỉ ở cữ chưa đầy một tháng đã quay lại công việc buôn bán, khi cơ sàn chậu chưa kịp hồi phục. Công việc bán quán ăn cũng khiến bà thường xuyên phải bưng bê rổ chén bát nặng, có lúc gánh nước phục vụ.
Sau đó, bà bắt đầu cảm thấy vùng kín xuất hiện một khối lồi nhỏ, có xu hướng sa xuống. Đến khoảng 50 tuổi, khối sa ngày càng lớn. Bà đi khám và được chẩn đoán sa tử cung nhưng cho rằng đây là bệnh tuổi già, không thể chữa khỏi nên trì hoãn điều trị.
Gần đây, khối sa phát triển lớn, gây chèn ép đường tiểu và khiến việc đại tiện khó khăn. Được người thân động viên, bà đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM thăm khám.
BS.CKII Nguyễn Bá Mỹ Nhi, Giám đốc Trung tâm Sản Phụ khoa của bệnh viện cho biết toàn bộ tử cung và bàng quang của bà Thiêm đã sa xuống thấp, vượt ra ngoài âm đạo. Người bệnh được chẩn đoán sa tử cung và bàng quang độ IV, mức độ nặng nhất của bệnh sa tạng chậu.
Khối sa không chỉ gây đau, cộm và khó chịu mà còn cản trở việc tiểu tiện, đại tiện, đồng thời làm tăng nguy cơ viêm loét, nhiễm trùng và ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống.

Người bệnh hồi phục tốt sau ca mổ bảo tồn bàng quang và tử cung, được xuất viện sau 24 giờ. Ảnh: BVCC
Sa tử cung không phải bệnh phải sống chung suốt đời
Theo bác sĩ Mỹ Nhi, nhiều phụ nữ xuất hiện dấu hiệu sa tử cung từ sớm nhưng âm thầm chịu đựng trong nhiều năm. Việc trì hoãn điều trị có thể xuất phát từ tâm lý chủ quan, ngại khám phụ khoa hoặc mặc cảm vì bệnh xảy ra ở vùng kín.
"Nhiều người quan niệm sa tử cung là 'bệnh của tuổi già', phải chấp nhận sống chung suốt đời, đây là quan niệm sai lầm", bác sĩ Nhi giải thích.
Sa tạng chậu được chia thành 4 cấp độ. Ở giai đoạn nhẹ, người bệnh có thể được hướng dẫn tập cơ sàn chậu, thay đổi lối sống, kiểm soát táo bón, giảm cân hoặc sử dụng vòng nâng âm đạo phù hợp. Khi bệnh tiến triển hoặc gây ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, người bệnh có thể cần phẫu thuật để đưa các cơ quan trở về đúng vị trí.
Trường hợp của bà Thiêm được xác định ở mức độ nặng, khi cả tử cung và bàng quang đều sa xuống thấp. Vì vậy, bác sĩ lựa chọn phương pháp phẫu thuật nội soi robot nhằm phục hồi hệ thống nâng đỡ các cơ quan vùng chậu và bảo tồn tối đa cấu trúc giải phẫu.
Robot đưa tử cung, bàng quang trở về vị trí ban đầu
Trong quá trình phẫu thuật, bác sĩ điều khiển cánh tay robot để đưa tử cung và bàng quang trở lại vị trí, đồng thời bộc lộ dây chằng chậu lược hai bên. Bàng quang, âm đạo và kênh cổ tử cung được cố định vào dây chằng chậu lược hai bên bằng tấm lưới tổng hợp.
Tấm lưới giúp neo các cơ quan bị sa trở lại vị trí bình thường, qua đó phục hồi chức năng tiểu tiện, đại tiện và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Nhờ camera 3D cho hình ảnh phóng đại 10-15 lần cùng khả năng thao tác linh hoạt trong không gian hẹp của robot, các mũi khâu được thực hiện chính xác, hạn chế tổn thương mô lành, giảm chảy máu và giúp người bệnh hồi phục nhanh sau phẫu thuật.
Sau mổ, tử cung và bàng quang của bà Thiêm được đưa trở về vị trí giải phẫu ban đầu. Người bệnh đi tiểu thuận lợi, không còn cảm giác nặng tức vùng chậu và đi lại dễ dàng hơn.
Phụ nữ cần lưu ý dấu hiệu sa tử cung
Bác sĩ Mỹ Nhi, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, cho biết sa tử cung là bệnh lý phổ biến ở phụ nữ, thường gặp ở khoảng 50% phụ nữ trên 50 tuổi.
Phụ nữ sau sinh, đặc biệt những người sinh nhiều lần, sinh khó, thường xuyên lao động nặng, béo phì hoặc táo bón mạn tính cần chú ý các dấu hiệu cảnh báo. Cảm giác nặng vùng chậu, xuất hiện khối lồi ở âm đạo, tiểu khó, són tiểu hoặc táo bón kéo dài là những biểu hiện cần được thăm khám.
Việc phát hiện và điều trị sớm giúp người bệnh hạn chế những bất tiện do sa tạng chậu gây ra, đồng thời có thêm lựa chọn điều trị phù hợp trước khi tình trạng tiến triển nặng như trường hợp bà Thiêm.