Hà Nội
23°C / 22-25°C

Nguồn gốc thú vị của nước ối và tầm quan trọng của chất lỏng đặc biệt này khi mang thai

Thứ năm, 08:12 01/06/2023 | Dân số và phát triển

Nước ối đánh dấu các giai đoạn phát triển quan trọng trong quá trình tăng trưởng của thai nhi khi ở trong bụng mẹ. Không có nước ối, quá trình mang thai sẽ không thể duy trì được.

1. Nước ối là gì?

Nước ối là chất lỏng trong suốt, màu vàng nhạt, không mùi hình thành trong vòng 12 ngày sau khi thụ thai. Túi ối được hình thành từ hai màng, màng ối và màng đệm bao bọc bảo vệ thai nhi phát triển trong tử cung . Nước ối có nhiều chức năng quan trọng và cần thiết cho sự phát triển khỏe mạnh của thai nhi. Tuy nhiên, nếu lượng nước ối bên trong tử cung quá ít hoặc quá nhiều sẽ xảy ra các biến chứng.

Ban đầu, nước ối được sản xuất bởi người mẹ, tuy nhiên, khi thai được khoảng 20 tuần, nước ối được thay thế hoàn toàn bằng nước tiểu của thai nhi. Nước ối lưu thông liên tục do thai nhi nuốt nước ối vào và nước ối lại tiếp tục được tái hấp thu qua da thai nhi, qua màng ối và dây rốn, sau đó bài tiết ra ngoài.

Nước ối chứa các chất dinh dưỡng, hormone, kháng thể và các chất lỏng khác để bảo vệ và giúp thai nhi khỏe mạnh. Khi thai được khoảng 34 tuần, khoảng 800 ml nước ối bao quanh thai nhi. Khi mang thai đủ tháng ở tuần thai thứ 40, lượng nước ối còn lại khoảng 600 ml. Có quá ít hoặc quá nhiều nước ối có thể gây ra vấn đề cho thai phụ hoặc thai nhi.

Khi nước ối có màu xanh lá cây hoặc nâu, điều này cho thấy thai nhi đã đi ngoài phân su trước khi chào đời. Phân su là tên gọi của lần đi tiêu đầu tiên. Phân su trong chất lỏng có thể gây ra vấn đề về hô hấp gọi là hội chứng hít phân su xảy ra khi phân su đi vào phổi. Trong một số trường hợp, ngay sau khi chào đời, trẻ sơ sinh sẽ cần được điều trị.

2. Chức năng của nước ối

Nước ối quan trọng thế nào khi mang thai? - Ảnh 2.

Nước ối có chức năng bảo vệ thai nhi.

Trong thời kỳ mang thai, nước ối chủ yếu là để bảo vệ thai nhi khỏi bị tổn hại. Các chức năng của nước ối bao gồm:

- Hoạt động như một tấm đệm: Điều này bảo vệ thai nhi khỏi chấn thương nếu bụng của mẹ bị tác động.

- Bảo vệ dây rốn: Nước ối chảy giữa dây rốn và thai nhi.

- Bảo vệ khỏi nhiễm trùng: Nước ối có đặc tính kháng khuẩn.

- Chứa các chất dinh dưỡng thiết yếu: Chúng bao gồm protein, chất điện giải, globulin miễn dịch và vitamin hỗ trợ sự phát triển của thai nhi.

- Cho phép thai nhi di chuyển: Nước ối cũng cho phép thai nhi đang phát triển di chuyển trong tử cung, từ đó cho phép sự phát triển và tăng trưởng thích hợp của hệ thống cơ xương, hệ thống tiêu hóa và hệ thống phổi.

- Duy trì nhiệt độ: Nước ối hỗ trợ giữ nhiệt độ ổn định liên tục xung quanh thai nhi trong suốt thai kỳ, bảo vệ chống mất nhiệt.

3. Biến chứng liên quan đến nước ối

Các biến chứng liên quan đến nước ối có thể xảy ra khi có quá nhiều hoặc quá ít chất lỏng.

3.1 Thiểu ối

Mức nước ối thấp được gọi là thiểu ối, xảy ra ở 4% tổng số ca mang thai và 12% các ca mang thai quá ngày. Thiểu ối xảy ra khi chỉ số nước ối nhìn thấy trên siêu âm nhỏ hơn 5 cm (chỉ số bình thường là 5-25 cm) và túi dọc tối đa nhỏ hơn 2 cm. Điều này thấy rõ trong trường hợp rò rỉ chất lỏng do màng ối bị rách, kích thước nhỏ trong một giai đoạn nhất định của thai kỳ hoặc nếu thai nhi không cử động nhiều như mong đợi.

Thiểu ối cũng có thể xảy ra ở những thai phụ có tiền sử mắc bệnh lý như đã từng mang thai chậm phát triển, tăng huyết áp , đã từng nạo, phá thai, tiền sản giật, bệnh đái tháo đường , bệnh lupus, mang thai đôi hoặc ba, dị tật bẩm sinh như bất thường thận, sinh già tháng…

Thiểu ối có thể xảy ra trong bất kỳ giai đoạn nào trong thai kỳ nhưng là một vấn đề đáng lo ngại hơn trong 6 tháng đầu của thai kỳ. Trong thời gian đó, nguy cơ dị tật bẩm sinh, sảy thai, sinh non hoặc tử vong ở trẻ sơ sinh sẽ cao hơn. Còn nếu thiểu ối trong 3 tháng cuối thai kỳ, thai có nguy cơ bị suy dinh dưỡng.

3.2 Đa ối

Nước ối quan trọng thế nào khi mang thai? - Ảnh 4.

Sinh non là một trong những biến chứng của đa ối.

Khi có quá nhiều nước ối được gọi là đa ối, xảy ra trong 1% trường hợp mang thai. Đa ối xuất hiện khi chỉ số nước ối lớn hơn 24 cm (cm) và túi dọc tối đa dài hơn 8 cm.

Rối loạn thai nhi có thể dẫn đến đa ối bao gồm:

  • Rối loạn tiêu hóa , bao gồm teo tá tràng hoặc thực quản, nứt dạ dày và thoát vị cơ hoành
  • Rối loạn não hoặc hệ thần kinh, chẳng hạn như bệnh não hoặc chứng loạn dưỡng cơ
  • Achondroplasia - một chứng rối loạn phát triển xương
  • Nhịp tim thai nhi
  • Nhiễm trùng
  • Hội chứng Beckwith-Wiedemann - rối loạn tăng trưởng bẩm sinh
  • Bất thường phổi thai nhi
  • Phù thai nhi, trong đó một lượng nước bất thường tích tụ bên trong nhiều vùng cơ thể của thai nhi
  • Hội chứng truyền máu song sinh, trong đó một đứa trẻ nhận được nhiều máu hơn đứa kia
  • Máu không phù hợp giữa mẹ và con (Rh không tương thích hoặc bệnh Kell)
  • Bệnh đái tháo đường của mẹ.
  • Quá nhiều chất lỏng cũng có thể được sản xuất trong quá trình mang đa thai.

Các triệu chứng của mẹ có thể bao gồm đau bụng và khó thở do tử cung mở rộng. Các biến chứng khác bao gồm:

  • Sinh non
  • Vỡ ối sớm
  • Nhau bong non
  • Thai chết lưu
  • Băng huyết sau sinh
  • Dị tật thai nhi
  • Sa dây rốn

Các trường hợp đa ối nhẹ thường không cần điều trị. Trong những trường hợp nghiêm trọng hơn, chất lỏng có thể cần được giảm bớt bằng chọc ối hoặc dùng thuốc gọi là indomethacin. Điều này làm giảm lượng nước tiểu thai nhi sản xuất.

3.3 Rò rỉ nước ối

Đôi khi, chất lỏng bị rò rỉ trước khi nước vỡ ối. Đôi khi là nước tiểu bởi vì tử cung đang đè lên bàng quang. Nhưng nếu chất lỏng không có màu và không có mùi sẽ là nước ối, thai phụ nên đến ngay bệnh viện vì đây là quá trình chuyển dạ bắt đầu.

Nếu nước ối có màu xanh lục, xanh nâu hoặc có mùi hôi, điều này có thể cho thấy sự hiện diện của phân su hoặc nhiễm trùng cũng nên đến bệnh viện để được khám và điều trị.

3.4 Vỡ ối sớm

Nếu nước ối rò rỉ hoặc vỡ xảy ra trước 37 tuần gọi là ối vỡ sớm. Tùy thuộc vào việc điều này xảy ra sớm như thế nào, có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho thai phụ và thai nhi.

Ối cũng có thể vỡ khi thai kỳ từ 37 tuần trở lên, nhưng quá trình chuyển dạ không bắt đầu một cách tự nhiên trong vòng 6 giờ sau khi màng ối vỡ.

Khi vỡ ối sớm, thai phụ cần đến cơ sở y tế càng sớm càng tốt và ngừng quan hệ tình dục (nếu có) hoặc đưa bất cứ thứ gì vào âm đạo, vì điều này có thể dẫn đến nhiễm trùng.


Bình luận (0)
Xem thêm bình luận
Ý kiến của bạn
5 biện pháp tránh thai nội tiết phổ biến nhất và những điều chị em cần biết

5 biện pháp tránh thai nội tiết phổ biến nhất và những điều chị em cần biết

Dân số và phát triển - 1 ngày trước

Trong thế giới hiện đại, việc chủ động kế hoạch hóa gia đình là chìa khóa vàng giúp phụ nữ làm chủ cuộc sống. Dưới đây là 5 biện pháp tránh thai nội tiết phổ biến nhất, hiệu quả và an toàn.

Thai phụ suýt tử vong, buộc phải cắt toàn bộ tử cung vì sai lầm khi tự ý dùng thuốc phá thai

Thai phụ suýt tử vong, buộc phải cắt toàn bộ tử cung vì sai lầm khi tự ý dùng thuốc phá thai

Dân số và phát triển - 2 ngày trước

GĐXH - Tai biến diễn tiến nhanh do tự ý dùng thuốc phá thai tại nhà buộc ê kíp phải phẫu thuật cấp cứu và cắt toàn bộ tử cung để cứu sống bệnh nhân.

Trí tuệ nhân tạo dự đoán biến chứng sức khỏe ở trẻ sinh non

Trí tuệ nhân tạo dự đoán biến chứng sức khỏe ở trẻ sinh non

Dân số và phát triển - 3 ngày trước

Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong chăm sóc trẻ sinh non đang mở ra một kỷ nguyên mới cho ngành Nhi khoa. Thay vì chỉ phản ứng khi triệu chứng xuất hiện, AI giúp các bác sĩ dự đoán và có hướng xử trí biến chứng từ sớm.

Vô sinh không do bệnh lý: 4 nguyên nhân bất ngờ đến từ lối sống nhiều người thường chủ quan

Vô sinh không do bệnh lý: 4 nguyên nhân bất ngờ đến từ lối sống nhiều người thường chủ quan

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

Khi nhắc đến vô sinh, hiếm muộn, nhiều người thường nghĩ ngay đến các vấn đề phức tạp tại tử cung, buồng trứng hay chất lượng tinh trùng kém do bệnh lý. Tuy nhiên, ít người biết rằng những thói quen sinh hoạt tưởng chừng vô hại lại đang âm thầm tước đi cơ hội làm cha mẹ của nhiều cặp đôi.

Khi nào nên làm xét nghiệm Pap để sàng lọc ung thư cổ tử cung?

Khi nào nên làm xét nghiệm Pap để sàng lọc ung thư cổ tử cung?

Dân số và phát triển - 4 ngày trước

Xét nghiệm Pap (hay Pap smear) là một xét nghiệm quan trọng để sàng lọc ung thư cổ tử cung. Thời điểm và tần suất thực hiện thường phụ thuộc vào độ tuổi, tiền sử sức khỏe của người phụ nữ.

Hưng Yên: Dấu ấn công tác dân số vùng biển và ven biển năm 2025

Hưng Yên: Dấu ấn công tác dân số vùng biển và ven biển năm 2025

Dân số và phát triển - 5 ngày trước

GĐXH - Chi cục Dân số và Trẻ em tỉnh Hưng Yên đã triển khai đồng bộ nhiều hoạt động với cách làm linh hoạt, phù hợp đặc thù vùng biển và ven biển. Nổi bật là các mô hình truyền thông và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS), kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) và nâng cao chất lượng dân số.

Đau bụng dưới cảnh giác với xoắn buồng trứng

Đau bụng dưới cảnh giác với xoắn buồng trứng

Dân số và phát triển - 5 ngày trước

Xoắn buồng trứng xảy ra chủ yếu với phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, tuy nhiên bệnh có thể xuất hiện ở cả phụ nữ mãn kinh, trẻ em thậm chí là trẻ sơ sinh.

Nhận biết dấu hiệu thụ thai thành công: Khi nào cơ thể bắt đầu thay đổi?

Nhận biết dấu hiệu thụ thai thành công: Khi nào cơ thể bắt đầu thay đổi?

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

Sau khi quá trình thụ tinh diễn ra, cơ thể người phụ nữ không thay đổi ngay lập tức mà cần một khoảng thời gian để các hormone bắt đầu kích hoạt. Việc theo dõi sát sao các thay đổi, dù là nhỏ nhất sẽ giúp bà mẹ có kế hoạch chăm sóc sức khỏe kịp thời.

6 lý do khiến phụ nữ bị đau bụng kinh dữ dội

6 lý do khiến phụ nữ bị đau bụng kinh dữ dội

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

Co thắt nhẹ hay đầy hơi khi hành kinh là bình thường nhưng nếu đau bụng kinh dữ dội hoặc có thể kèm chảy máu ồ ạt, đó có thể là dấu hiệu bệnh lý phụ khoa nguy hiểm cần đi khám ngay.

Công tác dân số năm 2025: Dấu mốc 'về đích' quan trọng, tạo nền tảng cho giai đoạn mới

Công tác dân số năm 2025: Dấu mốc 'về đích' quan trọng, tạo nền tảng cho giai đoạn mới

Dân số và phát triển - 1 tuần trước

GĐXH - Chiều 22/1, Cục Dân số (Bộ Y tế) tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026. Tham dự và chỉ đạo Hội nghị có Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên, lãnh đạo các vụ, cục, đơn vị thuộc Bộ Y tế cùng đại diện các cơ quan báo chí Trung ương và Hà Nội.

Top