1 loại quả có tác dụng ức chế tế bào ung thư, ngừa bệnh tiểu đường mà người Nhật ăn nhiều

| Sống khỏe

Người Nhật thích loại quả này bởi chúng có vị ngọt rất tự nhiên, mọng nước lại dồi dào vitamin và khoáng chất. Lê vừa thơm ngon, tươi mát, ăn không ngán mà còn cực kỳ tốt cho sức khỏe.

Loại quả ức chế tế bào ung thư người Nhật cực thích

Lê là một loại trái cây được người Nhật rất yêu thích. Vào mùa lê, các gia đình người Nhật thường dùng làm món tráng miệng, ép thành nước ép để uống, hoặc dùng lê trong các món salad... Người Nhật thích lê bởi chúng có vị ngọt rất tự nhiên, mọng nước lại dồi dào vitamin và khoáng chất. Lê vừa thơm ngon, tươi mát, ăn không ngán mà còn cực kỳ tốt cho sức khỏe.

Một số lợi ích sức khỏe cơ bản của quả lê bao gồm - cải thiện hệ thống miễn dịch, thúc đẩy giảm cân, điều chỉnh lượng đường trong máu, giúp tim khỏe mạnh, chữa lành vết thương và giải độc, ức chế sự hình thành của tế bào ung thư. 

Trong lê có chứa vitamin B-phức hợp, C và K, khoáng chất, kali, hợp chất phenolic, folate, chất xơ, đồng, mangan, magiê...

6da5439fac17470e8f524dcefce669ef_noop.jpeg

Bác sĩ nội tiết Li Aiguo (chuyên gia Khoa Nội tiết của Bệnh viện Hữu nghị Trung - Nhật), người tiểu đường có thể ăn lê. Bởi loại quả này có chỉ số đường huyết thấp, chất xơ dồi dào trong nó có thể làm chậm quá trình hấp thụ glucose vào máu. Tiêu thụ lê hàng ngày giúp cải thiện độ nhạy insulin thường xuyên và góp phần giảm nguy cơ biến chứng do bệnh tiểu đường.

Ngoài ra, lê còn là loại quả có tác dụng phòng chống bệnh ung thư. Lý do là bởi trái lê chứa nhiều chất chống ung thư chẳng hạn như anthocyanin và cinnamic. Một số nghiên cứu cho thấy trái lê có thể chống ung thư phổi, ung thư dạ dày và ung thư bàng quang. Các nghiên cứu khác cho thấy trái lê cũng ngăn ngừa tình trạng ung thư vú và ung thư buồng trứng ở phụ nữ.

4 lợi ích sức khỏe tuyệt vời nhất của quả lê

1. Sức khỏe tim mạch

Sự hiện diện của chất xơ trong quả lê làm cho nó trở thành một nguồn vô giá để ngăn ngừa bất kỳ bệnh tim nào. 

Chất xơ làm sạch axit mật, từ đó làm giảm mức cholesterol, giữ cả hai ở mức vừa phải. Một yếu tố đặc biệt khác trong quả lê là kali. Kali còn được gọi là thuốc giãn mạch. Nó làm giảm huyết áp, giảm căng thẳng cho toàn bộ hệ thống tim mạch và gây khó khăn cho việc hình thành cục máu đông. Kali còn giúp tăng cường lưu lượng máu đến tất cả các bộ phận của cơ thể, giúp oxy hóa các cơ quan và thúc đẩy hoạt động hiệu quả.

le-trong-che-do-an-2.jpeg

2. Tăng cường miễn dịch

Chất chống oxy hóa, vitamin C và đồng trong quả lê giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể, góp phần giúp cơ thể chống lại các bệnh nhiễm trùng khác nhau. Vitamin C cũng cải thiện hoạt động của các tế bào bạch cầu và ngăn ngừa các bệnh như cảm lạnh thông thường và nhiễm trùng tái phát.

3. Cải thiện tiêu hóa

Lê rất hữu ích trong việc cải thiện sức khỏe tiêu hóa. Hầu hết chất xơ trong quả lê là một loại polysacarit không hòa tan, có nghĩa là nó hoạt động như một chất hỗ trợ trong ruột. Chất xơ này thu thập thức ăn và giúp thức ăn đi qua ruột dễ dàng hơn. Nó cũng làm giảm nguy cơ táo bón, tiêu chảy và phân lỏng. 

Bản chất xốp của chất xơ trong quả lê giúp nó gắn kết các tác nhân gây ung thư, giải phóng các gốc tự do trong ruột kết.

4. Tăng cường sức khỏe của xương

Hàm lượng khoáng chất cao của lê bao gồm magiê, mangan, phốt pho, canxi và đồng. Những chất này làm giảm sự mất chất khoáng của xương và các tình trạng suy nhược như loãng xương. 

3ea7441d-e307-4db8-8120-e381bea63c9e.jpeg

Ngoài ra, lê còn chứa Vitamin K, chất này cực kỳ quan trọng với sức khỏe của xương. Tình trạng thiếu vitamin K khá phổ biến ở người lớn, phần lớn là do họ không nhận ra tầm quan trọng của loại vitamin này. Ăn lê thường xuyên giúp duy trì sức khỏe của xương và đồng thời đảm bảo quá trình đông máu bình thường. 

Tưởng mình bị trĩ, đến bệnh viện khám bất ngờ phát hiện bị ung thưTưởng mình bị trĩ, đến bệnh viện khám bất ngờ phát hiện bị ung thư

GĐXH - Nhiều người đại tiện ra máu và nghĩ bản thân bị trĩ nên không đi khám. Tuy nhiên, chỉ đến khi bệnh không thuyên giảm, công dân mới đến bệnh Bệnh viện Việt Nam- Thụy Điển Uông Bí kiểm tra thì bất ngờ được phát biện mắc ung thư trực tràng.

Bình luận (0)
Ý kiến của bạn
Tags:

Cùng chuyên mục

Sau tuổi 60, đi bộ vẫn đều đặn nhưng đôi chân yếu dần: 5 dấu hiệu không nên bỏ qua

Sau tuổi 60, đi bộ vẫn đều đặn nhưng đôi chân yếu dần: 5 dấu hiệu không nên bỏ qua

Sống khỏe -

GĐXH - Nhiều người sau tuổi 60 vẫn duy trì thói quen đi bộ mỗi ngày nhưng lại nhận thấy đôi chân ngày càng yếu, nhanh mỏi hoặc loạng choạng. Theo PGS.TS.BS. TTƯT Nguyễn Thị Kim Liên, Trưởng khoa Phục hồi chức năng (Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức), đây không đơn thuần là dấu hiệu của tuổi tác mà là cảnh báo sớm của các bệnh lý cơ xương khớp, thần kinh hoặc mạch máu.

Người phụ nữ không uống rượu, không hút thuốc nhưng mắc ung thư gan, nghi ngờ thủ phạm nằm ở món ăn sáng suốt 20 năm

Người phụ nữ không uống rượu, không hút thuốc nhưng mắc ung thư gan, nghi ngờ thủ phạm nằm ở món ăn sáng suốt 20 năm

Sống khỏe -

GĐXH - Nhiều người vẫn cho rằng ung thư gan chủ yếu xảy ra ở người nghiện rượu, hút thuốc lá hoặc mắc viêm gan B, viêm gan C. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy không ít trường hợp có lối sống rất lành mạnh vẫn phát hiện ung thư gan ở giai đoạn muộn. Đáng lo hơn, “thủ phạm” đôi khi lại nằm ngay trong những món ăn quen thuộc mỗi ngày.

7 vật dụng thân quen nhưng có thể gieo ‘độc khí’ vào tạng phủ: Nhiều người dùng mỗi ngày mà không biết

7 vật dụng thân quen nhưng có thể gieo ‘độc khí’ vào tạng phủ: Nhiều người dùng mỗi ngày mà không biết

Sống khỏe -

GĐXH - Nhiều người quan tâm đến chế độ ăn, tập luyện và giấc ngủ nhưng lại ít để ý đến những sản phẩm xuất hiện thường xuyên trong căn bếp, phòng tắm hay phòng ngủ. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào loại hóa chất, liều lượng và thời gian tiếp xúc, không nên hiểu rằng cứ sử dụng một sản phẩm là sẽ gây bệnh.

9 thói quen nhỏ giúp bảo vệ mạch máu, càng lớn tuổi càng nên duy trì

9 thói quen nhỏ giúp bảo vệ mạch máu, càng lớn tuổi càng nên duy trì

Sống khỏe -

GĐXH - Mạch máu có thể bị tổn thương và hình thành mảng xơ vữa âm thầm trong nhiều năm mà không gây triệu chứng rõ ràng. Chế độ ăn nhiều muối, chất béo không lành mạnh, ít vận động, hút thuốc, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu và đái tháo đường đều có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch.

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.