Đề án 52: Nhiệm vụ trọng yếu trong năm 2009
Giadinh.net - Tổ chức điểm cung cấp dịch vụ chăm sóc SKBMTE/KHHGĐ tại những nơi người lao động xuất bến đi biển dài ngày, khi cập bờ, tại các âu thuyền, điểm thuận lợi đối với dân vùng đầm phá.
> Khánh Hòa: Các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ được ưu tiên
Đẩy mạnh tư vấn kiến thức, kỹ năng...
Theo bản Hướng dẫn kế hoạch 2009 thực hiện Đề án 52 (số 3719/BYT - TCDS) của Bộ Y tế, nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc Sức khoẻ bà mẹ trẻ em/Kế hoạch hoá gia đình (SKBMTE/KHHGĐ), trong năm 2009, Sở Y tế 28 tỉnh, thành thuộc Đề án chỉ đạo triển khai, tổ chức đội lưu động Y tế - KHHGĐ thực hiện công tác truyền thông, tư vấn, cung cấp dịch vụ chăm sóc SKBMTE/KHHGĐ tại các xã đảo, xã ven biển, xã có đông người lao động nhập cư.
![]() |
|
Tập trung truyền thông để nâng cao nhận thức cho người dân vùng biển về chăm sóc SKSS (Ảnh: HH). |
Tổ chức điểm cung cấp dịch vụ chăm sóc SKBMTE/KHHGĐ tại những nơi người lao động xuất bến đi biển dài ngày, khi cập bờ, tại các âu thuyền, điểm thuận lợi đối với dân vùng đầm phá. Huy động và hỗ trợ cơ sở y tế quân - dân y kết hợp tham gia cung cấp dịch vụ cho người dân sinh sống trên các đảo. Huy động và hỗ trợ cơ sở y tế của các địa phương, xí nghiệp, công trường tại các xã thuộc khu công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch, khu kinh tế có trên 5.000 người lao động nhập cư để tham gia cung cấp dịch vụ cho đối tượng thuộc phạm vi và cho người dân sinh sống trong khu vực.
Với hoạt động nâng cao chất lượng dân số khi sinh, chú trọng tổ chức các loại hình tư vấn, kiểm tra sức khỏe, kiểm tra yếu tố nguy cơ cao ảnh hưởng trực tiếp đến sự mang thai, phát triển và chất lượng bào thai, đặc biệt đối với những cặp nam nữ chuẩn bị kết hôn. Lập danh sách, phân loại và tổ chức khám thai cho các bà mẹ có nguy cơ cao (tiền sử gia đình, bản thân có sinh con bị tật, dị dạng, sống trong môi trường ô nhiễm...). Tập trung phòng, chống bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản/lây truyền qua đường tình dục, phòng ngừa mang thai ngoài ý muốn, phá thai an toàn.
Tại các xã ven biển, xã có khu công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch, khu kinh tế, âu thuyền, cảng cá, bến cá, cảng biển (gọi tắt là xã ven biển) tổ chức sinh hoạt nhóm, sinh hoạt câu lạc bộ, giáo dục đồng đẳng, tư vấn trực tiếp, tư vấn tại cộng đồng, cung cấp thông tin, kiến thức, kỹ năng thực hành các biện pháp phòng, chống bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản/lây truyền qua đường tình dục, KHHGĐ, kỹ năng thực hành các biện pháp tránh thai cho các nhóm phụ nữ, chú trọng nhóm trong độ tuổi từ 15-24 chưa kết hôn, không đi học, chưa có việc làm hoặc có việc làm không ổn định. Khám phát hiện sớm và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn thông thường đường sinh sản. Cung cấp dịch vụ phá thai an toàn cho các đối tượng trên địa bàn có thai ngoài ý muốn.
Chú trọng tư vấn tại hộ gia đình
|
Một số nhiệm vụ và hoạt động của Đề án 52 trong năm 2009 Đáp ứng nhu cầu chăm sóc SKBMTE/KHHGĐ; Nâng cao chất lượng dân số khi sinh; Phòng, chống bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản/lây truyền qua đường tình dục, phòng ngừa mang thai ngoài ý muốn, phá thai an toàn; Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý; Tăng cường và nâng cao hiệu quả truyền thông. Căn cứ Hướng dẫn nội dung hoạt động và kinh phí năm 2009, Sở Y tế 28 tỉnh ven biển xây dựng kế hoạch chi tiết hoạt động và kinh phí (bao gồm cả nguồn ngân sách địa phương chi bổ sung cho Đề án) trình UBND tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện. |
Việc thiết lập, vận hành kho dữ liệu điện tử chuyên ngành, đối với các huyện đảo chưa có kho dữ liệu thì từng bước đầu tư trang thiết bị, bố trí cán bộ cho hoạt động này. Thí điểm xây dựng, vận hành kho dữ liệu điện tử tại một số xã đảo đông dân. Đối với kho dữ liệu điện tử hiện có tại các huyện, tỉnh thì căn cứ thiết kế hệ thống, phần mềm, quy trình nhập thông tin đối với thông tin bổ sung cho vùng biển, các địa phương tổ chức vận hành, bảo trì trang thiết bị và hệ cơ sở dữ liệu điện tử. Việc vận hành kho dữ liệu điện tử tại các huyện, tỉnh phải đáp ứng 2 nhiệm vụ là báo cáo cho Chương trình mục tiêu quốc gia DS-KHHGĐ và cho Đề án 52.
Căn cứ sơ đồ địa bàn hộ gia đình, tỉnh, huyện xác định điểm thu tin, cách thức thu thập thông tin, người thu thập thông tin phù hợp nhằm thu thập, truyền gửi và quản lý thông tin của dân số lưu động. Với những điểm thu tin khó chuyển nhận hoặc khó vận chuyển bằng văn bản thì tổ chức truyền tin bằng giao dịch điện tử hoặc thông tin tín hiệu.
Để tăng cường và nâng cao hiệu quả truyền thông, Trung ương sẽ tổ chức biên soạn, nhân bản sản phẩm truyền thông mẫu (Thông điệp vận động quốc gia; sách về những nội dung chủ yếu của Đề án...) cấp cho các bộ, ngành, đoàn thể, các tỉnh, xã ven biển, xã đảo thuộc địa bàn Đề án 52. Trên cơ sở đó các tỉnh chủ động biên tập lại, sản xuất mới cho phù hợp.
Lồng ghép tuyên truyền, giáo dục vào hoạt động của các tổ chức. Theo đó trung tâm DS-KHHGĐ huyện và trạm Y tế xã thực hiện các nội dung về truyền thông nhân các sự kiện, tổ chức các đội văn nghệ lưu động theo hình thức dân gian đặc thù vùng biển, nói chuyện chuyên đề với các thầy cô giáo, học sinh, các chức sắc tôn giáo, người có uy tín trong cộng đồng và thành viên của các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội. Biên tập, phát thanh thường xuyên các nội dung tuyên truyền, giáo dục trên hệ thống truyền thanh xã.
